- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Cẩm L - Trần Lê Khánh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Cẩm L đối với ông Trần Lê Khánh T về việc “tranh chấp ly hôn và về nuôi con chung”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22-9-2022 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.
2. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Quốc Khanh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 372/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm L, sinh năm 2001; HKTT: Ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Trần Lê Khánh T, sinh năm 1999; HKTT: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 12/5/2022, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 24/8/2022, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T chung sống với nhau từ năm 2020, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 24/02/2021.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã nhau, cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình; bà L nhận thấy giữa bà L và ông T không thể hàn gắn để quay về chung sống hạnh phúc. Vì vậy, bà L làm đơn xin ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Phạm Khánh Â, sinh ngày 21/12/2021. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà L không có ý kiến gì khác.
* Bị đơn ông Trần Lê Khánh T:
Trong suốt quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho ông Trần Lê Khánh T biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, ông T vẫn vắng mặt không có lý do cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn ông T.
* Kết quả xác minh:
Tại biên bản xác minh ngày 25/8/2022 của Tòa án đối với bà Phạm Thị T là Trưởng Ban lãnh đạo ấp C, xã T nơi ông T cư trú thể hiện: Ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ ấp C, xã T. Ông T và bà L có đănng ký kết hôn tại UBND xã T. Ông T và bà L có 01 con chung tên Trần Phạm Khánh Â, sinh ngày 21/12/2021; mâu thuẫn giữa ông T và bà L thì địa phương không rõ nhưng từ tháng 01/2022 đến nay hai người không còn chung sống với nhau.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng là đã tự từ bỏ quyền lợi của mình.
Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Phạm Thị Cẩm L khởi kiện ông Trần Lê Khánh T về việc tranh chấp ly hôn và về nuôi con chung. Ông T có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông T theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn bà L:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T chung sống với nhau từ năm 2020, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 24/02/2021. Hôn nhân giữa bà L và ông T là sự tự nguyện giữa hai bên và thực hiện đúng thủ tục nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà L cho rằng bà L và ông T thường bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã nhau, cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Trước yêu cầu xin ly hôn của bà L, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T nhiều lần đến Tòa án để làm việc, hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vẫn không có mặt, điều này cho thấy ông T không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, theo biên bản xác minh ngày 25/8/2022 thì nguyên nhân mâu thuẩn giữa bà L và ông T địa phương không rõ, nhưng từ tháng 01/2022 đến nay thì bà L và ông T không còn chung sống với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan T, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình thế nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông T không đạt được những điều đó. Nên yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung tên Trần Phạm Khánh Â, sinh ngày 21/12/2021. Bà L yêu cầu nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Trần Phạm Khánh Â, sinh ngày 21/12/2021, hiện tại cháu  chưa đủ 01 tuổi nên rất cần có mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cháu  cho bà L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp pháp luật.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Cẩm L đối với ông Trần Lê Khánh T về việc “tranh chấp ly hôn và về nuôi con chung”.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm L được ly hôn với ông Trần Lê Khánh T.
1.2. Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Cẩm L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Phạm Khánh Â, sinh ngày 21/12/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
2. Án phí: Bà Phạm Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010789 ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng; - UBND xã Thanh An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Lệ Mỹ Nguyễn Thị Thu Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Đồng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Minh Đồng |