vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 31/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Ngọc Thanh B đối với ông De Neano Vivas Savall V.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Ngọc Thanh B được ly hôn với ông De Neano Vivas Savall V. Về án phí: Bà Phan Ngọc Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004966 ngày 31-05-20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Ngọc Thanh B đối với ông De Neano Vivas Savall V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31-8-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phi Hùng

Ông Nguyễn Viết Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Ngọc Thanh B; sinh năm 1990; cư trú tại: 2792 East 5th Avenue, Vancouner, Canada. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông De Ceano Vivas Savall V; sinh năm 1994; cư trú tại: đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Đặng Văn Bình – Chức vụ: Cán bộ biên phiên dịch - Trung tâm phục vụ đối ngoại Đà Nẵng - Sở Ngoại vụ thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án vào ngày 13-5-2022, nguyên đơn bà Phan Ngọc Thanh B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, bà và ông De Ceano Vivas Savall V đã tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng, cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09-9-2019. Sau khi kết hôn và chung sống được hơn 01 năm thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi và nhận ra không còn chung định hướng, mục tiêu trong cuộc sống. Tháng 3 năm 2021, bà sang Canada để làm việc và học tập còn ông V ở lại Đà Nẵng, hai người ly thân từ đó. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà và ông V không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông De Ceano Vivas Savall V, trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất như bà Phan Ngọc Thanh B đã trình bày. Tháng 3 năm 2021, thì bà B sang Canada du học và quyết định không về lại Việt Nam, nên giữa vợ chồng đã liên lạc trao đổi và thống nhất việc ly hôn.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông và bà B không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn bà Phan Ngọc Thanh B là công dân Việt Nam, hiện đang cư trú tại 2792 East 5th Avenue, Vancouver, Canada V5M 1N2 và bị đơn ông De Neano Vivas Savall V, có quốc tịch Tây Ban Nha; hiện đang cư trú tại đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Việt Nam, theo quy định tại các Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Phan Ngọc Thanh B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt vì lý do hiện tại ở Canada tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, việc đi lại khó khăn do đó bà không thể thu xếp về Việt Nam tham gia tố tụng, nên Tòa án không mở phiên họp hòa giải theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và mở phiên tòa để xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn ông De Neano Vivas Savall V của bà Phan Ngọc Thanh B thì thấy, sau khi kết hôn được hơn 01 năm thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Thêm vào đó là từ tháng 3/2021 thì bà B sang Canada học tập và làm việc nên tình cảm vợ chồng cũng từ đó mà phai nhạt. Do đó hôn nhân của ông bà là không còn trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu xin ly hôn của bà B là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Bà B và ông V không có con chung; không có tài sản chung; không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình bà Phan Ngọc Thanh B phải chịu, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 39, Điều 147 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Ngọc Thanh B đối với ông De Neano Vivas Savall V.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Ngọc Thanh B được ly hôn với ông De Neano Vivas Savall V.

2. Về án phí: Bà Phan Ngọc Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004966 ngày 31-05-2022, của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bị đơn ông De Neano Vivas Savall V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn bà Phan Ngọc Thanh B không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ