- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 48/2022/DS-ST Ngày: 28/6/2022 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Phước Công;
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Lắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2022/TLST-DS ngày 28 tháng
02 năm 2022 về tranh chấp “hợp đồng dân sự hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 205/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1945; địa chỉ: tổ 11, ấp L, xã
L, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1977;
địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: tổ 11, ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang (văn bản ủy quyền ngày 23/3/2022). Vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,
tỉnh An Giang. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Anh T, sinh năm
1974; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai đại diện nguyên đơn trình bày: bà D có
tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị T làm chủ cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: hụi 1.000.000 đồng, bắt đầu khui vào ngày
12/12al/2019, gồm 25 hụi viên, bà D tham gia một phần, mỗi tháng khui hụi một lần. Bà chầu đến lần thứ 14, bà T ngưng không khui nữa, dây hụi này bà T nợ bà 14.000.000 đồng. Bà D là người trực tiếp tham gia trong giấy hụi tên là Thiếm 6 Tiệp (tên thường gọi tại nhà của bà D).
Dây hụi thứ hai: hụi 1.000.000 đồng, bắt đầu khui vào ngày 30/5âl/2019,
gồm 26 hụi viên, bà D tham gia một phần, mỗi tháng khui hụi một lần. Bà chầu đến lần thứ 21, bà T ngưng không khui nữa, dây hụi này bà T nợ bà D 21.000.000 đồng. Bà D là người trực tiếp tham gia trong giấy hụi tên là Thiếm 6 Tiệp (tên thường gọi tại nhà của bà D).
Tổng 02 dây hụi bà T nợ bà D 35.000.000đồng. Trong thời gian tham gia
hụi với bà T, ông T là chồng bà T cùng ăn chung, làm chung trong gia đình, việc chơi hụi ông T đều biết, đều tham gia và đều sử dung số tiền hụi này của bà. Nay bà D yêu cầu bà T và ông T có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền 35.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến
trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh T vắng mặt không
có lý do và không gởi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ bà D khởi kiện là 02 giấy hụi ngày 30/5/2019al và 12/12/2019al, thể hiện bà T làm chủ hụi, bà D tham gia hụi với tư cách hụi viên cùng nhiều hụi viên khác. Trong đó, có bà Lê Thị Ngữ và Lâm Thị Trang cùng tham gia dây hụi ngày 12/12/2019, cho biết trong dây hụi này bà D tham gia 01 phần và vẫn chưa hốt hụi, dây hụi ngày 30/5/2019, có bà Bùi Thị Bé Tám tham gia cùng bà D, bà T. Từ đó, có căn cứ xác định rằng, bà T có làm chủ hụi đối với 02 dây hụi nêu trên và vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi, tự ý ngưng hụi và còn nợ bà D tổng số tiền của 02 dây hụi là 35.000.000đồng, nên bà D khởi kiện yêu cầu bà T trả 35.000.000đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ Luật dân sự và Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường.
Đối với yêu cầu buộc ông Huỳnh Anh T liên đới trả cho bà D số tiền
35.000.000đồng. Thấy rằng, tại biên bản xác minh ngày 26/4/2022 của Tòa án, xác định ông T và bà T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Điền A ngày 29/3/2016, vẫn còn chúng sống và đây là khoản nợ trong thời kỳ
hôn nhân đang tồn tại nên căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình, buộc
ông T liên đới cùng bà T trả khoản nợ trên.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471
Bộ luật Dân sự, đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D đối với bà Nguyễn
Thị T, ông Huỳnh Anh T.
- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Huỳnh Anh T trả cho bà Nguyễn Thị D số
tiền 35.000.000 đồng.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục t tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có nơi cư ngụ tại xã
Long Điền A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, Điều
35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trước khi mở phiên tòa đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia
phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố
tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn
cứ.
Quyền khởi kiện: tại các giấy hụi bà D cung cấp cho Tòa án để khởi kiện
bảo vệ quyền và lợi ích của mình thể hiện tên người tham gia hụi do bà T làm
chủ hụi là “Thiếm 6 Tiệp”, tuy nhiên chính quyền địa phương đã xác nhận nội
dung bà Nguyễn Thị D tên thường gọi là Thiếm 6 Tiệp. Xét thấy, bà D có căn cứ
để xác lập có quyền khởi kiện vụ kiện nêu trên.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà T và ông T liên đới trả
số tiền hụi còn thiếu là 35.000.000 đồng. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là
các giấy hụi ngày 12/02al/2019 là 1.000.000 đồng; ngày 30/5âl/2019 là
1.000.000 đồng. Ngoài ra còn các lời khai của người làm chứng bà Lê Thị Ngữ,
bà Bùi Thị Bé Tám, bà Lâm Thị Trang là những người cùng tham gia chơi trong
các dây hụi do bà T làm chủ đều xác định bà D có cùng tham gia chơi hụi chung
do bà T làm chủ và bà D chưa hốt hụi cho đến lúc bà T ngưng không khui hụi
tiếp. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nhưng phía bà T, ông T vắng mặt không có lý do và c ng không có ý kiến của
mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ có cơ
sở xác định giữa bà T và bà D có xác lập họp đồng dân sự hụi với nhau hụi do
bà T làm chủ, bà D hụi viên tham gia 02 dây hụi đến khi bà T ngưng hụi thì còn
nợ bà D số tiền 35.000.000 đồng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ 35.000.000 đồng là có cơ sở phù hợp với Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường nên được chấp nhận.
[2.2] Về trách nhiệm trả nợ nguyên đơn yêu cầu bà T và ông T liên đới trả
số nợ trên. Xét thấy bà T và ông T kết hôn năm 2016 có đăng ký kết hôn cho đến nay vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng, việc bà T mở nhiều dây hụi rất nhiều người đến giao nhận tiền với bà T, phía ông T không có ý kiến phản đối với các giao dịch liên quan đến hoạt kinh tế gia đình của bà T do đó ông T phải chịu trách nhiệm liên đới với bà T để trả số nợ trên cho bà D.
[3] Về án phí: bà T, ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
C n c vào: Điều
Bộ lu t dân sự n m
; Điều 6, Điều , Điều
, Điều
và Điều
Bộ lu t t tụng dân sự n m
; Điều 27, 37 Lu t Hôn nhân và gia đình n m
; Điều 8, Nghị định 9 ngày 9/ / 9 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường; Nghị quyết s 6/ 6/UBTVQH ngày / / 6 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.
Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Huỳnh Anh T có trách nhiệm liên đới trả cho
bà Nguyễn Thị D số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi l m triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2. n phí DSST: Bà Nguyễn Thị T, ông Huỳnh Anh T phải chịu là
1.750.000 đồng (một triệu, bảy tr m n m mươi ngàn đồng).
Bà Nguyễn Thị D thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí
(người cao tuổi).
3.Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - VKSND huyện Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy |