vanban.org

Bản án 48/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 08/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim M: Buộc ông Nguyễn Minh T có trách nhiệm bồi thường cho bà Phạm Kim Mai số tiền 19.501.000 (Mười chín triệu năm trăm lẻ một nghìn) đồng gồm: chi p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm M-T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 48/2022/DS-ST.
Ngày: 08/7/2022.
V/v “Tranh chấp bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm
phạm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng

2. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 217/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim M, sinh năm: 1984

Địa chỉ: khu phố BL, phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: khu phố H, phường N, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1981

Địa chỉ: khu phố BL, phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Bà M và ông T có mặt. Ông N yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- 1 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Kim M trình bày:

Bà là tiểu thương buôn bán tại chợ phường 7, thành phố Bến Tre. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/9/2021, trong lúc bà bán rau thì có cự cãi qua lại với vợ chồng ông Nguyễn Minh T. Ông Nguyễn Minh T có dùng ghế nhựa đánh vào vùng mặt của bà và dùng chân đạp vào bụng bà khiến bà phải cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Việc ông T gây thương tích cho bà được công an phường 7 lập biên bản ngay sau đó và Công an thành phố Bến Tre có đưa bà đi giám định thương tích. Kết quả thương tích 03%. Qua làm việc tại Công an thành phố Bến Tre, do tỷ lệ thương tích của bà chưa đến mức khởi tố hình sự nên bà làm Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gởi đến Tòa án. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Minh T phải có trách nhiệm bồi thường cho bà các khoản tiền như sau:

- Chi phí ngày 26/9/2021:

+ Phí truyền huyết thanh: 25.000đ

+ Chi phí thuốc dịch truyền, vật tư y tế, khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thủ thuật phẫu thuật: 1.079.000đồng

+ Tiền thuốc: 1.071.000đồng

- Chi phí ngày 04/10/2021:

+ Chi phí test nhanh Covid 19 của Phạm Thị Kim Mai: 238.000đồng

+ Chi phí test nhanh Covid 19 của ông Nguyễn Hoàng N: 238.000đồng

- Chi phí mất thu nhập do nghỉ bán 09 ngày: 10.800.000 đồng

- Thu nhập thực tế bị mất của ông Nguyễn Hoàng N 09 ngày: 2.700.000đồng

- Chi phí thẩm mỹ viện điều trị sẹo: 15.000.000đồng

- Tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000đồng

- Tiền hàng hóa hư hỏng ngày 26/9/2021: 4.000.000đồng.

Tổng cộng bà M yêu cầu ông T bồi thường số tiền: 45.151.000đồng

Bà M xin rút yêu cầu khởi kiện đối với các khoản tiền sau:

- Chi phí test nhanh Covid 19 ngày 26/9/2022 của bà M là 238.000đồng và ông N là 238.000đồng

- Chi phí tiền thuốc ngày 27/9/2021: 208.000đồng

- Chi phí tiền thuốc ngày 04/10/2021: 169.000đồng.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

- 2 -

Ông thừa nhận có đánh bà M gây thương tích như bà M trình bày. Việc ông đánh bà M là do bà M đã có những lời lẽ xúc phạm danh dự của ông. Khi Công an phường 7 hòa giải, ông đã xin lỗi và có thiện chí bồi thường tiền thuốc cho bà M nhưng bà M không đồng ý. Nay bà M đã khởi kiện ra tòa nên ông không thương lượng với bà M và không đồng ý bồi thường cho bà M bất kỳ khoản chi phí nào.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng N trình bày:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/12/2021, bà Phạm Thị Kim M có yêu cầu bồi thường cho ông số tiền 3.000.000 đồng 10 ngày làm việc. Ông thống nhất với yêu cầu của bà M và không có ý kiến hay yêu cầu nào khác. Vì lý do công việc, ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Buộc ông T có nghĩa vụ bồi thường cho bà M các khoản tiền sau:

+ Chi phí truyền huyết thanh ngày 26/9/2021: 25.000đồng

+ Chi phí thuốc dịch truyền, vật tư y tế, khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thủ thuật phẫu thuật ngày 26/9/2021: 1.079.000đồng

+ Tiền thuốc ngày 26/9/2021: 1.071.000đồng

+ Chi phí test nhanh Covid 19 của Phạm Thị Kim Mai ngày 04/10/2021: 238.000đồng

+ Chi phí test nhanh Covid 19 của ông Nguyễn Hoàng N ngày 04/10/2021: 238.000đồng

+ Chi phí mất thu nhập 09 ngày nghỉ bán của bà M: 4.950.000đồng

+ Chi phí mất thu nhập 09 ngày nghỉ bán của ông T: 900.000đồng

+ Chi phí thẩm mỹ: 1.000.000đồng

+ Tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000đồng

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M đối với yêu cầu bồi thường hàng hóa hư hỏng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Phạm Thị Kim M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh T bồi thường số tiền 45.151.000 đồng, xét quan hệ tranh chấp giữa bà Phạm Thị Kim M với ông Nguyễn Minh T là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, bị đơn ông Nguyễn Minh T hiện đang cư trú tại phường 5, thành phố

- 3 -

Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với việc bà M xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bồi thường các khoản tiền chi phí test nhanh covid 19 ngày 26/9/2021 của bà M và ông N mỗi người 238.000đồng, tiền thuốc ngày 27/9/2021 là 208.000đồng, tiền thuốc ngày 04/10/2021 là 169.000đồng: xét thấy việc bà M xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim M về việc yêu cầu ông T trả các khoản tiền gồm: chi phí test nhanh covid 19 ngày 26/9/2021 của bà M và ông N mỗi người 238.000đồng, tiền thuốc ngày 27/9/2021 là 208.000đồng, tiền thuốc ngày 04/10/2021 là 169.000đồng

Về nội dung: Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Minh T thừa nhận ngày 26/9/2021 đã có hành vi gây thương tích cho nguyên đơn bà Phạm Thị Kim M. Theo hồ sơ điều trị của bà Phạm Thị Kim M do bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cung cấp, bà M bị chấn thương đầu mặt/ Vết thương gò má – Thái dương/ Chấn thương ngực, bụng và cẳng tay . Do ông T đã có hành vi trái pháp luật làm tổn hại đến sức khỏe của bà M vào ngày 26/9/2021, nên việc bà M khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ theo quy định tại Điều 584, 586 Bộ luật dân sự năm 2015. Các khoản tiền bà M yêu cầu ông T bồi thường được xem xét cụ thể như sau:

- Đối với yêu cầu trả phí khám bệnh ngày 26/9/2021 là 25.000đồng, chi phí thuốc dịch truyền, vật tư y tế, khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thủ thuật phẫu thuật tổng cộng 1.079.630 đồng, tiền thuốc ngày 26/9/2021 1.071.000đồng, chi phí test ngày 04/10/2021 của Phạm Thị Kim Mai là 238.000đồng và của ông Nguyễn Hoàng N: 238.000đồng: xét thấy, các khoản tiền bà M yêu cầu là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm sút theo quy định tại tiểu mục 1.1, mục 1, Phần 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Số tiền bà M yêu cầu phù hợp với bảng kê chi phí khám chữa bệnh cho bà M ngày 26/9/2021 do bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cung cấp, bản sao Hóa đơn ngày 26/9/2021 của Nhà thuốc tây Hòa Dân, bản sao Phiếu thu ngày 04/10/2021 của bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu nên có cơ sở chấp nhận.

- Đối với yêu cầu bồi thường chi phí thẩm mỹ 15.000.000đồng: việc ông T gây thương tích cho bà M để lại sẹo gây mất thẩm mỹ nên bà M yêu cầu ông T bồi thường chi phí thẩm mỹ là có căn cứ theo quy định tại tiểu mục 1.1, mục 1, Phần 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đã ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 146/2022/QĐ-CCTLCC ngày 08/6/2022, yêu cầu bà M cung cấp chứng cứ chứng minh việc điều trị tại Thẩm mỹ viện Hava nhưng bà M không cung cấp được, bà M chỉ cung cấp được Phiếu thu của Thẩm mỹ viện Hương Sen số tiền 1.000.000đồng. Tại phiên tòa bà M thừa nhận người điều trị cho bà M là nhân viên

- 4 -

của Thẩm mỹ viện Hava, do quen biết nên bà M nhờ đến nhà chữa trị với tư cách cá nhân, không phải cơ sở thẩm mỹ được cấp phép theo quy định. Do đó, chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M đối với chi phí thẩm mỹ là 1.000.000đồng.

- Đối với Chi phí mất thu nhập do nghỉ bán 09 ngày số tiền 10.800.000đồng: xét thấy, bà M nhập viện điều trị vào ngày 26/9/2021 tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu và điều trị tại nhà từ ngày 26/9/2021 đến ngày 04/10/2021 thì cắt chỉ vết thương tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy, thời gian điều trị thực tế của bà M 09 ngày. Căn cứ theo quy định tại tiểu mục 1.2, mục 1, Phần 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ông T phải có nghĩa vụ bồi thường thu nhập thực tế bị mất cho bà M. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu bà M cung cấp chứng cứ chứng minh trước khi sức khỏe bị xâm phạm bà M có thu nhập ổn định 1.200.000đồng/ngày nhưng bà M không cung cấp được. Căn cứ theo biên bản xác minh ngày 20/6/2022 tại Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Bến Tre: thu nhập bình quân 01 ngày của tiểu thương bán rau là 550.000đồng/ngày. Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc ông T bồi thường cho bà M số tiền bị mất thu nhập trong 09 ngày điều trị là 4.950.000đồng

- Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của ông Nguyễn Hoàng N 09 ngày là 2.700.000đồng. Do thời gian điều trị thực tế của bà M là 09 ngày, ông T là người trực tiếp chăm sóc bà M trong thời gian điều trị nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc theo quy định tại tiểu mục 1.3, mục 1, Phần 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu bà M cung cấp chứng cứ chứng minh ông N có thu nhập ổn định bình quân 300.000đồng/ngày nhưng bà M không cung cấp được. Căn cứ theo biên bản xác minh ngày 20/6/2022 tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Bến Tre: thu nhập trung bình một ngày của lao động phổ thông là 100.000đồng/ngày. Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc ông T bồi thường số tiền bị mất thu nhập bị mất của ông Nguyễn Hoàng N trong 09 ngày là 900.000đồng

- Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 10.000.000đồng: xét thấy, việc ông T gây thương tích cho bà M gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cá nhân, gây tâm lý hoang man, lo lắng cho bà M, đồng thời để lại sẹo ảnh hưởng đến thẩm mỹ cá nhân của bà M nên những tổn thất tinh thần của bà M là có thật. Do đó cần buộc ông T phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho bà M. Việc bà M yêu cầu ông T bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

- Đối với yêu cầu bồi thường tiền hàng hóa hư hỏng ngày 26/9/2021: 4.000.000đồng. Tòa án đã ra quyết định yêu cầu bà M cung cấp Hóa đơn nhập hàng hóa ngày 25/9/2021 nhưng bà M không cung cấp được nên không có cơ sở chấp nhận

- 5 -

Tổng cộng, ông Nguyễn Minh Thành có trách nhiệm bồi thường cho bà M số tiền 19.501.000 đồng.

Về án phí: Ông Nguyễn Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 975.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Phạm Thị Kim M không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự 2015.

- Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim M: Buộc ông Nguyễn Minh T có trách nhiệm bồi thường cho bà Phạm Kim Mai số tiền 19.501.000 (Mười chín triệu năm trăm lẻ một nghìn) đồng gồm: chi phí điều trị và tiền thuốc 2.651.000 (Hai triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn) đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất là 5.850.000 (Năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng gồm: thu nhập bị mất của bà M: 4.950.000đồng, thu nhập bị mất của ông N 900.000đồng, tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 (Mười triệu) đồng, chi phí thẩm mỹ: 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim M về việc yêu cầu ông T trả các khoản tiền gồm: chi phí test nhanh covid 19 ngày 26/9/2021 của bà M và ông N mỗi người 238.000 (Hai trăm ba mươi tám nghìn) đồng, tiền thuốc ngày 27/9/2021 là 208.000 (Hai trăm lẻ tám nghìn) đồng, tiền thuốc ngày 04/10/2021 là 169.000 (Một trăm sáu mươi chín nghìn) đồng

- 6 -

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Nguyễn Minh T phải chịu là 975.000 (Chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

Bà Phạm Thị Kim M không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ