vanban.org

Bản án 48/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 08/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo: Hoàng nh; Thái Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Bé Ba phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Khi bản án hình sự s thẩm số 45/2021/HS-ST, ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã M t nh L có hiệu lực pháp luật. Chánh án Tòa án ra bản án sau cùng ra quy t định tổng hợp hình phạt của các bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Anh cùng đồng bọn phạm tội trôm cắp tài sản và tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội trộm cắp tài sản (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo: Hoàng nh; Thái Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Bé Ba phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HSST
Ngày 08 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Tr ng Minh Thi t

Các Hội thẩm nhân dân:

- ng L ng Phi Hùng

- ng Nguyễn Minh Hiền

- Thý ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuy t Hồng – Th ký Tòa án nhân dân thị xã M t nh VL.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhãn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 10 năm 2021 trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử s thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2021/HSST, ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Hoàng Anh (tên th ờng gọi: Ủng), sinh ngày 19 tháng 8 năm 1997; N i sinh: tại M t nh VL; N i ĐKHKTT: ấp 3, xã T, thị xã M t nh VL; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Họ và tên cha: Văn Tám sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Phụng sinh năm 1964; Ch a có vợ, con; nh chị em ruột có 03 ng ời lớn nhất sinh năm 1984 nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: không; Tiền sự: không.

- Nhân thân:

+ Vào ngày 01/4/2013 bị Chủ tịch UBND thị xã M t nh VL ra quy t định đ a vào tr ờng giáo d ỡng 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Vào ngày 30/10/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã M t nh VL xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

+ Vào ngày 28/5/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã M t nh VL xử phạt 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản. (thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 18/9/2020).

+ Vào ngày 30/9/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã M t nh VL xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 22/01/2021).

Bị cáo Hoàng nh hiện đang chấp hành án phạt tù tại Nhà tạm giữ Công an thị xã M t nh VL, đ ợc trích xuất dẫn giải đ n phiên tòa.

2/ Họ và tên: Thái Bảo (tên th ờng gọi: không) sinh ngày 27 tháng 4 năm 2003; N i sinh: tại M t nh VL; N i ĐKHKTT: tổ 5 ấp 3 xã D thị xã B t nh VL; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Sang sinh năm 1980; Họ và tên mẹ: Pha sinh năm 1984; Ch a có vợ con. nh chị em ruột có 02 ng ời lớn nhất bị cáo nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: không.

- Nhân thân:

+ Vào ngày 28/5/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã M t nh V L xử phạt 04 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có.

Bị cáo Thái Bảo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã M, từ ngày 23/8/2021 cho đ n nay, đ ợc trích xuất dẫn giải đ n phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bảo:

1. nh Sang sinh năm 1980 – có mặt

2. Chị Pha sinh năm 1984 – có mặt

Cùng địa ch : tổ 5 ấp 3 xã T thị xã M t nh V L.

- Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Thái Bảo: Ông Lê Văn Nhẫn – Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà n ớc t nh Vĩnh Long.

3/ Họ và tên: Bé Ba (tên th ờng gọi: Khuya), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985; N i sinh: tại Cần Th ; N i ĐKHKTT: Khu vực A 1 ph ờng A quận N, thành phố T; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Họ và tên cha: Tuấn sinh năm 1969 (ch t); Họ và tên mẹ: Xuân sinh năm 1969; Ch a có vợ con; nh chị em ruột không;

- Tiền án: không.

- Tiền sự: Vào ngày 30/01/2019 bị Tòa án nhân dân quận R, thành phố T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đ a vào c sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.

- Nhân thân:

+ Vào ngày 13/5/2005 bị Tòa án nhân dân huyện N, thành phố T xử phạt 09 tháng tù nh ng cho h ởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

+ Vào ngày 24/02/2006 bị Tòa án nhân dân huyện N, thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bàn án số 13/2005/HSST ngày 13/5/2005 hình phạt chung phải chấp hành là 01 năm 06 tháng tù.

+ Vào ngày 21/5/2009 bị Tòa án nhân dân quận N, thành phố T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Vào ngày 30/8/2013 bị Tòa án nhân dân huyện B t nh A xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản (đã đ ợc xóa án tích).

Bị cáo Bé Ba đang bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đ a vào c sở cai nghiện bắt buộc t nh v theo quy t định số 12/2021/QĐST-XLHC, ngày 12 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã B t nh L với thời hạn là 12 tháng, bị cáo đ ợc trích xuất dẫn giải đ n phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lê sinh năm 1983 – vắng mặt

Địa ch : tổ 6 ấp 1, xã D, thị xã Bình Minh t nh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông M ời sinh năm 1961 - vắng mặt

Địa ch : ấp B, xã T, huyện H t nh M.

- Người làm chứng: nh Phú sinh năm 1978 - vắng mặt

Địa ch : Khóm A, ph ờng T thị xã M t nh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 27/01/2021 bị cáo Thái Bảo điều khiển xe máy biển số 64F - 4232 đ n nhà của bị cáo Hoàng nh ch i thì đ ợc bị cáo Hoàng nh rủ Bảo đi tìm tài sản của ng ời khác lấy trộm bán để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng Bảo đồng ý thực hiện. Sau đó bị cáo Bảo điều khiển xe máy biển số 64F - 4232 chở bị cáo Hoàng nh chạy dọc theo tuy n đ ờng đal liên xã X - V tìm tài sản để lấy trộm. Khi đ n đoạn đ ờng thuộc tổ 4 ấp Y, xã U thị xã B thì cả hai phát hiện thấy xe máy biển số 64H8 - 5928 của anh Thạch Lê sinh năm 1983 đang dựng cặp đ ờng đal nh ng không có ng ời trông coi. Bị cáo Bảo d ờng xe lại để bị cáo Hoàng nh xuống đ n lấy trộm chi c xe rồi bị cáo Bảo điều khiển xe chạy đi chỗ khác chờ bị cáo Hoàng nh. Bị cáo Hoàng nh đi lại chỗ chi c xe anh Thạch Lê đang dựng thấy trên xe có sẵn chìa khóa nên bị cáo Hoàng nh tra chìa khóa vào ổ khóa xe và khởi động xe máy. Bị cáo Hoàng nh điều khiển xe máy lấy trộm chạy đ n chỗ bị cáo Bảo chờ. Khi gặp bị cáo Bảo thì bị cáo Hoàng nh giao chi c xe vừa lấy trộm đ ợc cho bị cáo Bảo đem đi bán còn bị cáo Hoàng nh thì điều khiển xe máy biển số 64F - 4232 đi sửa tại tiệm sửa xe xe tại khu vực xã D thị xã M và chờ bị cáo Bảo đem tiền bán xe về. Bị cáo Bảo điều khiển xe máy biển số 64H8 - 5928 lấy trộm đ ợc đ n nhà của bị cáo Bé Ba ở khóm ph ờng T thị xã Minh bán xe máy cho bị cáo Bé Ba với giá 1.500.000đồng. Khi mua xe máy biển số 64H8 - 5928 thì bị cáo Bé Ba bi t rõ là tài sản do phạm tội mà có vì khi gạ bán xe máy bị cáo Bảo có nói với bị cáo Bé Ba là “ chi c xe này của bạn lấy trộm của ng ời khác ở khu vực chợ T” xe không có giấy chứng nhận đăng ký giá chênh lệch rẻ h n rất nhiều so với giá trị thực t là 3.600.000đồng nh ng bán ch 1.500.000đồng. Bị cáo Bé Ba bi t rõ xe máy biển số 64H8 - 5928 là tài sản do phạm tội mà có nh ng đồng ý mua vì giá rẻ mua để dùng làm ph ng tiện di chuyển cá nhân.

Sau khi bán xe máy xong bị cáo Bảo đón xe ôm đi đ n khu vực đ ờng lộ cũ mua ma túy của một ng ời thanh niên khoảng 30 tuổi không rõ họ tên và địa ch với số tiền mua là 1.000.000đồng sau đó bị cáo Bảo đem ma túy về sử dụng cùng với bị cáo Hoàng Anh. Còn bị cáo Bé Ba sau khi mua đ ợc xe máy 64H8 - 5928 thì bị cáo đem về tháo bửng xe ra đem đem đ n tiệm sửa xe tháo tem cũ dán tem khác vào tháo biển số xe 64H8 - 5928 ra vứt bỏ và gắn biển số 52K5 - 2642 vào để tránh bị phát hiện.

Ngày 03/02/2021 C quan điều tra ti n hành kiểm tra nhà của bị cáo Bé Ba thì phát hiện và thu giữ 01 chi c xe máy mang biển số 52K5 - 2642 có số máy số khung trùng với số máy số khung của xe máy biển số 64H8 - 5928 của anh Thạch Lê bị mất trộm.

Quá trình điều tra các bị báo Hoàng nh Bảo thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe máy biển số 64H8 - 5928 của anh Thạch Lê. Bị cáo Bé Ba thừa nhận lúc mua xe máy biển số 64H8 - 5928 của bị cáo Bảo thì bi t rõ xe máy mà bị cáo Bảo bán là do phạm tội mà có vì xe giá rẻ nên bị cáo Bé Ba đồng ý mua để sử dụng.

Tại bản k t luận định giá tài sản số: 10/KL.ĐGTS ngày 09/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã k t luận: Xe máy biển số 64H8 - 5928 có giá trị thành tiền là 3.600.000đồng.

Qua điều tra bị cáo Hoàng nh bị cáo Bảo còn khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nh sau: Vào khoảng 02 giờ ngày 02/02/2021 bị cáo Bảo điều khiển xe máy chở bị cáo Hoàng nh đ n nhà của anh Nguyễn Văn Tíu ở ấp Mỹ Thới 2 xã Mỹ thị xã Minh lén lúc lấy trộm xe máy biển số 52T4 - 9231 của ông M ời sinh năm 1961. Sau đó bị cáo Hoàng nh nhờ Nhí sinh năm 1994 c trú tổ 2 ấp Mỹ 2 xã L thị xã Minh đi cùng với bị cáo Bảo đem xe máy đã lấy trộm bán cho vựa ph liệu của anh Tài sinh năm 1984 với giá 400.000đồng cả hai lấy tiền mua ma túy sử dụng h t.

Tại bản k t luận định giá tài sản số: 12/KL.ĐGTS ngày 22/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã k t luận: Xe máy biển số 52T4 - 9231 có giá trị thành tiền là 600.000đồng.

- Đối với xe máy biển số 64H8 - 5928 và xe máy biển số 52T4 - 9231 sau khi định giá C quan điều tra đã trả lại cho anh Thạch Lê và ông M ời nhận lại xong.

- Đối với xe máy biển số 64FA - 4231 mà bị cáo Bảo và Hoàng nh sử dụng làm ph ng tiện đi trộm cắp là của Quốc sinh năm 1999 n i c trú tổ 2 ấp 1 xã T, thị xã Minh t nh L đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên qua xác minh anh Quốc không có mặt tại địa ph ng nên C quan điều tra ti p tục xác minh làm rõ để xử lý sau.

- Đối với Nguyễn Tấn Tài đã mua xe máy biển số 52T4 - 9231 nh ng do Tài không bi t đây là tài sản do bị cáo Bảo và Hoàng nh phạm tội mà có nên C quan điều tra không xử lý.

- Đối với Nhí cùng với bị cáo Bảo đem xe máy biển số 52T4 - 9231 đi bán nh ng Nhí không bi t xe máy là do bị cáo Bảo và Hoàng nh phạm tội mà có nên C quan điều tra không xem xét xử lý.

- Đối với ng ời bán ma túy cho bị cáo Bảo: Do không bi t rõ họ tên địa ch cụ thể nên ti p tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

- Đối với biển số xe máy 52K5 - 2642 mà bị cáo Bé Ba gắn vào chi c xe máy biển số 64H8- 5928 để sử dụng là biển giả nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 1.500.000đồng mà bị cáo Bảo bán xe máy bị cáo Bảo đã mua ma túy h t số tiền 1.000.000đồng còn 500.000đồng tiêu sài cá nhân h t. Nên cần buộc bị cáo Bảo và Hoàng nh nộp lại để sung Ngân sách nhà n ớc.

- Bị hại: nh Thạch Lê đã nhận lại xe máy biển 64H8 - 5928 xong; Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ng M ời đã nhận lại xe máy biển số 52T4 - 9231 xong không yêu cầu gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSBM ngày 31/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố các bị cáo: Hoàng nh; Thái Bảo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bé Ba về tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng ng ời đúng tội đúng pháp luật giữ nguyên việc truy tố, đồng thời phân tích các y u tố cầu thành tội phạm đánh giá tính chất mức độ các tình ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Đề nghị hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo: Hoàng nh Thái Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Bé Ba phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Anh mức án từ 01 (một) năm tù đ n 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù đ ợc tính từ ngày 03/02/2021.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 58; 91; 101 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Thái Bảo mức án từ 06 (sáu) tháng tù đ n 09 (chính) tháng tù. Thời hạn tù đ ợc tính từ ngày 23/8/2021.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm h s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử bị cáo Bé Ba mức án từ 09 (chính) tháng tù đ n 01 (một) năm tù. Thời hạn tù đ ợc tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung bị cáo Thái Bảo; Bé Ba.

- Buộc bị cáo Thái Bảo và bị cáo Hoàng nh nộp số tiền 1.500.000đồng mà bị cáo bán xe máy để sung Ngân sách nhà n ớc.

- Về trách nhiệm dân sự: nh Thạch Lê đã nhận lại xe máy biển 64H8 - 5928 xong; Ông M ời đã nhận lại xe máy biển số 52T4 - 9231 xong không yêu cầu gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị ghi nhận c quan điều tra đã xử lý nh sau: Đã trả lại xe máy biển số 64H8 - 5928 và xe máy biển số 52T4 - 9231 cho anh Thạch Lê và ông M ời xong. Biển số xe máy 52K5 - 2642 là biển số giả nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng nh; Thái Bảo Bé Ba mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự s thẩm.

Các bị cáo Hoàng nh; Thái Bảo và Bé Ba không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội nh cáo trạng quy k t.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi quy t định tố tụng của C quan điều tra điều tra viên Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ng ời bị hại và những ng ời tham gia tố tụng khác không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi quy t định của C quan ti n hành tố tụng ng ời ti n hành tố tụng. Do đó các hành vi quy t định tố tụng là hợp pháp.

Xét thấy việc vắng mặt bị hại anh Thạch Lê ông M ời là ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã đ ợc tòa án tống đạt hợp lệ nh ng vắng mặt tại phiên tòa. Bị hại ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tài sản và thỏa thuận xong về phần trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì thêm trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng đầy đủ nên việc vắng mặt không làm ảnh h ởng đ n việc giải quy t vụ án. Do vậy vẫn ti n hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên Tòa:

Bị cáo Hoàng nh Thái Bảo và Bé Ba vẫn khai nhận hành vi phạm tội nh đã khai trong quá trình điều tra và truy tố. Các bị cáo ch xin xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về phần trách nhiệm dân sự không có ý ki n.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Thái Bảo trình bày: Thống nhất với ý ki n của đại diện viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng các tình ti t giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo Bảo: Bị cáo có ng ời cụ ông là Tâm và cụ bà B ớm đ ợc nhà N ớc tặng huân ch ng kháng chi n hạng nhì trong cuộc kháng chi n chống Mỹ cứu n ớc. Nên cần xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự quy t định hình phạt d ới mức thấp nhất của khung hình phạt đ ợc áp dụng là 04 tháng.

Ng ời đại diện hợp pháp cho bị cáo Thái Bảo: nh Sang chị Kim Pha thống nhất với ý ki n của Kiểm sát viên Trợ giúp viên pháp lý đã bào chữa cho bị cáo Bảo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bảo.

Xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai của ng ời bị hại lời khai của ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản giao nhận tài liệu đồ vật dữ liệu điện tử; k t luận định giá tài sản cùng các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Do không có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên Hoàng nh đã rủ rê xúi dục Thái Bảo là ng ời ch a đủ 18 tuổi đi trộm cắp tài sản thì Bảo đồng ý. Vào khoảng 10 giờ ngày 27/01/2021 Bảo điều khiển xe máy biển số 64F - 4232 chở Hoàng nh đi lấy trộm tài sản khi đi đ n khu vực tổ 4 ấp 1 xã T thị xã M thì cả hai phát hiện xe máy biển số 64H8-5928 của anh Thạch Lê dựng cặp đ ờng lộ đal không có ng ời trông coi. Bảo dừng xe cho Hoàng nh xuống xe lấy trộm xe máy biển số 64H8-5928 sau đó đem bán cho Nguyễn Văn Bé Ba với giá 1.500.000đồng.

Căn cứ k t luật định giá tài sản thì xe máy biển số 64H8-5928 của anh Thạch Lê có giá là 3.600.000đồng. Hành vi nói trên của các bị cáo: Hoàng nh và Thái Bảo đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; Đối với bị cáo Bé Ba ch vì tham lam muốn có xe máy sử dụng với giá rẻ mặc dù bị cáo bi t rõ xe mà bị cáo mua là xe do ng ời khác phạm tội mà có nh ng bị cáo dẫn mua dẫn đ n phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có” tội danh và hình phạt đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố các bị cáo là đúng ng ời đúng tội và có căn cứ.

Xét hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã chi m đoạt tài sản của ng ời khác một cách trái pháp luật đ ợc pháp luật bảo vệ; gây tác động xấu đ n trật tự trị an tại địa ph ng. Để thấy đ ợc tính chất mức độ của từng bị cáo cần phân tích vai trò riêng của từng bị cáo. Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc phân công vai trò trách nhiệm cụ thể nên ch mang tính đồng phạm giản đ n.

+ Đối với bị cáo Hoàng nh là ng ời nảy sinh và khởi s ớng rủ rê lôi kéo bị cáo Thái Bảo cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo có nhân thấn xấu về hành vi trộm cắp tài sản bị cáo không lấy đó làm g ng mà còn ti p tục phạm tội.

+ Đối với bị cáo Thái Bảo là ng ời đ ợc bị cáo Hoàng nh rủ rê lôi kéo; lẽ ra bị cáo phải can ngăn nh ng bị cáo còn tích cực thực hiện cùng bị cáo Hoàng nh.

+ Đối với bị cáo Bé Ba không có tình ti t tăng nặng; Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu lẽ ra bị cáo phải bi t ăn năn hối cải chí thú làm ăn để lo cho bản thân và gia đình. Nh ng ch vì l ời lao động muốn mua tài sản giá rẻ nên bị cáo đã vi phạm pháp luật dù bi t rõ tài sản nói trên là do ng ời khác phạm tội mà có, tuy không hứa hẹn tr ớc. Sau khi mua xe bị cáo đã thay đổi k t cấu xe nhằm tránh sự phát hiện của chủ sở hữu để làm ph ng tiện đi lại.

- Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Hoàng nh là ng ời xúi dục bị cáo Thái Bảo là ng ời d ới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối vợi các bị cáo Hoàng nh Thái Bảo Bé Ba đ ợc xem xét các tình ti t nh : Phạm tội nh ng ch a gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Ng ời phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tài sản của bị hại đã thu hồi đ ợc và trả lại xong; Riêng bị cáo Thái Bảo đ ợc xem xét áp dụng thêm tình ti t: phạm tội khi ch a đủ 18 tuổi; Bị cáo thuộc diện gia đình có công cách mạng trong cuộc kháng chi n chống Mỹ cứu n ớc theo quy định tại điểm h s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do các bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo mức án nh đề nghị của Kiểm sát viên cũng đảm bảo răng đe giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

- Hình phạt bổ sung: Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy các bị cáo là đối t ợng không có nghề nghiệp ổn định không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Buộc bị cáo Hoàng Anh, Thái Bảo nộp lại số tiền 1.500.000đồng tiền thu nhập từ việc bán xe máy để sung Ngân sách nhà n ớc. (mỗi bị cáo nộp 750.000đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thạch Lê đã nhận lại xe máy biển 64H8

- 5928 xong; Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ng M ời đã nhận lại xe máy biển số 52T4 - 9231 xong không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Ghi nhận việc C quan điều tra đã trả lại cho anh Thạch Lê và ông M ời nhận lại xe máy biển số 64H8 - 5928 và xe máy biển số 52T4 – 9231.

+ Tịch thu và tiêu hủy biển số xe máy 52K5 - 2642.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo nh; Thái Bảo Bé Ba mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự s thẩm.

Bản án hình sự s thẩm số 45/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã M t nh L xử phạt bị cáo Hoàng nh 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã tổng hợp hợp hình phạt của Bản án hình sự s thẩm số 23/2021/HS-ST, ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân thị xã M t nh L xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Tr ờng hợp này thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Hoàng nh đ ợc tính từ ngày 03/02/2021.

- Xét lời đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý là có căn cứ chấp nhận một phần.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng khác đ ợc quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo: Hoàng nh; Thái Bảo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Bé Ba phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Khi bản án hình sự s thẩm số 45/2021/HS-ST, ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã M t nh L có hiệu lực pháp luật. Chánh án Tòa án ra bản án sau cùng ra quy t định tổng hợp hình phạt của các bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt chung đ ợc tính từ ngày 03/02/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 58; 91; 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Thái Bảo 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm h s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Bé Ba 01 (một) năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do ng ời khác phạm tội mà có. Thời hạn tù đ ợc tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Buộc bị cáo Hoàng Anh; Thái Bảo mỗi bị cáo nộp số tiền 750.000đồng để sung vào Ngân sách nhà n ớc.

2.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thạch Lê và ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông M ời đã nhận lại đúng và đủ tài sản xong không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 biển số xe máy 52K5 - 2642. Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã M theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2021.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo: Hoàng nh Thái Bảo và Bé Ba nộp số tiền: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự s thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những ng ời tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày đ ợc tính kể từ ngày bản án đ ợc giao hoặc đ ợc niêm y t.

Tr ờng hợp Bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ