vanban.org

Bản án 48/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 11/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51; 50, 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thế L 05 (năm) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 10/11/2020; Xử phạt bị cáo và Phạm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần TheesL và Đp trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2021/HSST
Ngày: 11- 5 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Đình Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Đính

2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều

-Thư ký phiên toà:Ông Hồ Ph ng Tâm – Th ký Toà án nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà:Ông Nguyễn Đữc Sách– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2021 tại Toà án nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2021, Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 33/2021/HSST-QĐ ngày 29/3/2021 đối với các bị cáo:

1. Trần Thế L, sinh năm1990 tại Bình Ph ớc; tên gọi khác: Thanh Bò Tọt; N i c trú: Tổ 4, ấp 12, xã MH, huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc;nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị P; bị cáo ch a có v , con; tiền án: 05 tiền án, Bản án số 16/2006/HSST ngày 14/11/2006 của TAND huyện Ch n Thành xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 27/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Ch n Thành xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội cố ý gây th ng tích theo bản án số 32/2008/HSST; ngày 26/10/2011 bị tòa án huyện Ch n Thành xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 104/2011/HSST; ngày 14/10/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Ch n Thành xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 107/2013/HSST; ngày 12/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ch n Thành xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 02/2017/HSST ch a đ c xóa án tích; tiền sự: không; ngày 10/11/2020 bị bắt tạm giữ, tạm giam t đó đến nay.

2. Phạm Nguyễn Hoàng A, Sinh năm 1987 tại Bình Ph ớc; tên gọi khác: Giá; N i c trú: Tổ 6, ấp Đ, xã Thanh An, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Ph ớc; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Minh T và bà Nguyễn Thị Á; bị cáo ch a có v , con; tiền án: 05 tiền án, Bản án số 50/2006/HSST ngày 14/3/2006 của TAND huyện Bình Long xử phạt bị cáo 14 tháng tù về tội l a đảo chiếm đoạt tài sản; ngày 18/7/2007 bị Tòa án nhân dân huyện huyện Bình Long xử phạt bị cáo 20 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 81/2007/HSST; ngày 23/10/2008 bị tòa án huyện huyện Bình Long xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 88/2008/HSST; ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội l a đảo chiếm đoạt tài sản theo bản án số 16/2017/HSST; ngày 15/5/2020 bị TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 16/2020/HSST ch a đ c xóa án tích; tiền sự: không; hiện đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 16/2020/HSST ngày 15/5/2020 của TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

Bị hại: 1.Anh Lê Văn B, sinh năm 1974; n i c trú: Tổ 4, ấp 10, xã MH, huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc.

2. Chị Lê Thị Th, sinh năm 1971; n i c trú: Tổ 18, ấp H, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

Người làm chứng:Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; n i c trú: ấp C, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1976; n i c trú: ấp C, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1987; n i c trú: ấp H, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 19/11/2019, Trần Thế L gọi điện thoại cho Phạm Nguyễn Hoàng A rủ A đi trộm cắp tài sản, nghe L nói vậy A đồng ý. Sau đó L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đen (không rõ biển số) qua phòng trọ của A tại ấp 2, xã MH để chở A. Khi cả hai đi đến khu vực đ ờng đất phía sau khu dân c Đại Nam thuộc xã MH thì phát hiện 01 căn nhà xây nằm bên phải đ ờng, cửa nhà khóa, không ng ời trông coi của Anh Lê Văn B, sinh năm 1974, HKTT: Tổ 4, ấp 10, xã MH, huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc nên L nói A đứng bên ngoài cảnh giới còn L đi vào dùng cây xà beng và dụng cụ mở khóa (mang theo sẵn) phá ổ khóa cửa bên hông căn nhà rồi đi vào bên trong. L vào nhà, đi đến trong phòng ngủ thì phát hiện trong phòng có 01 két sắt nên đã dùng chiếc mền có sẵn trong phòng trùm kín két sắt lại rồi kéo ra bên ngoài. Sau đó L kêu A chạy xe vào sân nhà và cùng A khiêng két sắt lên xe rồi L điều khiển xe mô tô còn A ngồi phía sau ôm két sắt tẩu thoát ra khu vực lô cao su giáp khu dân c Đại Nam để cạy phá két sắt. Do cây xà beng đem theo không cạy đ c két sắt nên L nói A ở lại trông coi két sắt còn L điều khiển xe mô tô ra tiệm vật liệu xây dựng (đối diện nông tr ờng cao su Minh H ng) mua cây xà beng to h n rồi quay lại. Khi quay lại thì L cùng A tiếp tục dùng cây xà beng mới mua cạy phá két sắt. Khoảng 05 phút sau thì cả hai phá đ c cửa két sắt ra và phát hiện bên trong có số tiền 30.000.000đ (Ba m i triệu đồng) và một số giấy tờ của chủ nhà. Lúc này L cầm tiền ra đếm và chia cho A số tiền 15.000.000đ (M ời lăm triệu đồng) còn những giấy tờ của chủ nhà cả hai lấy bật lửa đốt hết. Sau đó L và A khiêng két sắt lên xe chở đến khu vực lô cao su gần đó để giấu rồi L chở A về phòng trọ của A rồi quay về nhà. Đến ngày hôm sau do lo s bị C quan Công an phát hiện nên L và A đã bỏ trốn và dùng số tiền lấy trộm đ c tiêu xài hết vào mục đích cá nhân. Đến ngày 06/12/2019, L cùng A tiếp tục thực hiện vụ trộm cắp tài sản tại xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng bị ng ời dân phát hiện và bắt giữ A còn L đã kịp tẩu thoát. Đến ngày 10/11/2020 biết bản thân mình không thể che giấu hành vi phạm tội của mình nên L đã đến Công an huyện Ch n Thành để đầu thú về hành vi phạm tội của mình cùng đồng bọn phạm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 06/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 18/01/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Ch n Thành xác định giá trị 01 (một) két sắt màu xanh, nhãn hiệu “CHUBB” có kích th ớc 0,54 x 0,47 x 0,42 m, d ới đế có 4 bánh xe đẩy củaAnh Lê Văn B tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.800.000 đồng.

Tổng số tài sản màB bị L và A chiếm đoạt là 34.800.000 đồng (Ba m i bốn triệu tám trăm ngàn đồng).

Tại địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng:

Khoảng 07 giờ, ngày 06/12/2019 Trần Thế L điện thoại cho Phạm Nguyễn Hoàng A rủ A đi trộm thì A đồng ý. Sau đó, L chuẩn bị một cây sắt có đầu dẹp giống xà beng, dài khoảng 50 cm và 01 khóa vặn ốc 16, bằng sắt, màu trắng, điều khiển xe mô tô của mình là xe Wave, màu xanh, không rõ biển số đến nhà trọ của A đang sống chung với Danh Thị T, sinh năm 1992, HKTT: Ấp Đ ờng Đào, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tại phòng trọ số 1, nhà trọ Phú Huy, thuộc ấp 3, xã MH, huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc để chở A đi tìm nhà ng ời dân không có ng ời ở nhà trông coi thì đột nhập vào nhà tìm kiếm tài sản để trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ cùng ngày, L và A đi đến ấp H, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng quan sát, phát hiện số nhà 303, thuộc ấp H, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng do bà Lê Thị Th, sinh năm: 1971, HKTT: Ấp Hòa Hiệp, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng làm chủ xung quanh là lô cao su, nằm xa các hộ dân khác và không có ng ời trông coi thì A d ng xe mô tô ở sau bụi tầm vông tr ớc cổng nhà bà Th để cảnh giới, còn L cầm cây sắt và khóa 16 bỏ trong túi quần đi vào nhà bà Th dùng khóa 16 kê phía d ới khóa và sỏ cây sắt bẻ gãy móc khóa cửa chính để đi vào nhà, đến phòng ngủ tiếp giáp với phòng khách thì phát hiện trong phòng có tủ quần áo bằng sắt, màu xanh, L tìm bên trong phát hiện 01 (một) bộ vòng Ximen ống nhuyễn bằng vàng 61%, cân nặng: 3,8 chỉ; 01 (một) lắc mắt xích bằng vàng 61 %, cân nặng 3,279 chỉ; 01 (một) lắc mắt xích bằng vàng 18, cân nặng 1,145 chỉ; 01 (một) vòng chạm khắc bằng vàng 18, cân nặng 01 chỉ; 01 (một) vòng kim c ng có khóa vàng 61%, cân nặng 1,315 chỉ; 01 (một) nhẫn hình lá d a bằng vàng 18, cân nặng 0,54 chỉ; 01 (một) đôi bông tai bằng vàng 18, cân nặng 0,5 chỉ; 01(một) nhẫn vàng tr n bằng vàng 18, cân nặng 0,5 chỉ ở trong cặp táp màu đen d ới quần áo đã gấp bên hộc tủ bên phải L lấy bỏ vào túi quần bên phải. Sau đó, đi ra ngoài đ ờng đi t phòng khách xuống bếp thì phát hiện 01 (Một) xe mô tô biển số: 61H1-064.41, số khung: C640BY548452, số máy: 5C64548458 có cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa thì L đẩy xe mô tô ra cửa bên hông về phía bếp và khởi động máy xe tuy nhiên do xe để lâu nên không nổ đ c máy, lúc này bà Th đi trút mủ cao su tại lô cao su cách nhà khoảng 01 km đi về nhà thì nhìn thấy L đang ngồi trên xe mô tô và đạp máy xe nên truy hô, thấy sự việc bị phát hiện nên L vứt xe mô tô lại bỏ chạy. Khi bỏ chạy, L cầm theo khóa 16, cây sắt và vàng chạy ra chỗ A đang cảnh giới. A điều khiển xe mô tô chở L chạy về phía đ ờng đi xã T, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Ph ớc, bà Th cầm chổi chà đuổi theo phía sau đồng thời truy hô thì ông Nguyễn Văn T, sinh năm:1979, HKTT: Ấp Cây Liễu, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng là tổ tr ởng khai thác Nông tr ờng cao su M, ông Nguyễn B, sinh năm: 1976, HKTT: Ấp C, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng, ông Nguyễn Đức T, sinh năm: 1987, HKTT: Ấp H, xã M, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng cùng là công nhân khai thác mủ thuộc Nông tr ờng cao su M và ông Lê Văn X, sinh năm: 1988, HKTT: Ấp T, xã L, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng là nhân viên Nông tr ờng cao su nghe thấy chạy lên chặn đ ờng nên A và L điều khiển xe mô tô chạy ng c lại đến chỗ bà Th đang truy đuổi phía sau. A, L và xe bị tr t ngã bên lề đ ờng, bà Th cầm chổi đánh A và L thì A nhặt cây củi bên lề đ ờng đập bà Th làm bà Th bị th ng tích nhẹ (bầm tụ máu bả vai phải kích th ớc 05x05 cm, bầm tụ máu khuỷu tay phải kích th ớc 05x04 cm, trầy x ớc da ngốn tay trỏ bên phải) sau đó bỏ chạy đ c khoảng 500 mét thì bị ông T, anh T1, anh X bắt giữ. L sau khi té ngã đứng dậy lấy xe mô tô Wave bỏ chạy ông B đuổi theo nh ng không kịp nên L điều khiển xe mô tô trốn thoát. L điều khiển xe mô tô chạy về nhà kiểm tra số vàng trong túi thì phát hiện số vàng lấy đ c đã bị r i lúc nào, ở đâu không biết. L bán xe mô tô cho một ng ời thanh niên (Không rõ nhân thân lai lịch) đ c số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiêu xài hết.

Ngày 12/12/2019 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng có kết luận số: 41/KL-HĐĐG. Kết luận tổng giá trị thiệt hại tài sản trong vụ Trộm cắp tài sảnxảy ra ngày 06/12/2019 tại ấp H, xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng là:43.888.560 đồng (bốn m i ba triệu tám trăm tám m i tám ngàn năm trăm sáu m i đồng). Trong đó: Giá trị thiệt hại tài sản xe mô tô nhãn hiệu: YAMANHA, Số loại: SIRIUS, màu: đen – vàng, biển số: 61H1-064.4 1à 12.000.000 đồng (m ời hai triệu đồng) và vàng là 31.888.560 (ba m i mốt triệu tám trăm tám m i tám ngàn năm trăm sau m i đồng).

Quá trình điều tra, Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nh đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Lê Văn B yêu cầu các bị cáo L và A phải bồi th ờng toàn bộ tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt là 34.800.000 đồng (Ba m i bốn triệu tám trăm ngàn đồng). Ngoài ra B còn yêu cầu C quan điều tra tiếp tục làm rõ 01 l ng vàng SJC mà B đã mất trộm.

- Đối với chị Lê Thị Th yêu cầu các bị cáo L và A phải bồi th ờng trị giá số tài sản bị chiếm đoạt là 43.888.000đ (tính tròn số).

Việc thu giữ đồ vật chứng:

Thu giữ 01 (một) két sắt màu xanh, nhãn hiệu “CHUBB” có kích th ớc 0,54 x 0,47 x 0,42 m, d ới đế có 4 bánh xe đẩy đã bị h hỏng không sử dụng đ c.

- Đối với xe mô tô Wave mà Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A sử dụng làm ph ng tiện để trộm cắp tài sản của B thì bị can L đã bán t tháng 7/2020, C quan điều tra không thu hồi đ c nên không có c sở xử lý.

Đối với 01 l ng vàng SJC, bị hại Lê Văn B trình báo đã bị mất trộm chung với số tiền 30.000.000 đồng để trong két sắt. Quá trình điều tra ch a chứng minh đ c. C quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại bản án số 16/2020/HSST ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình D ng đã xét xử bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị T ngày 06/12/2019.

Tại Bản cáo trạng số 32/CTr-VKS-CT ngày 01/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố các bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Bản cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 50, 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thế L mức án t 05 năm đến 06 năm tù; Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A mức án t 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tổng h p hình phạt theo qui định chung; Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, bồi th ờng thiệt hại theo qui định.

Tại phiên tòa: Các bị cáo th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù h p lời khai của bị hại tại c quan điều tra, phù h p với Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng, đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ s vụ án đ c xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Ngày 19/11/2019 bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A lén lút đột nhập vào nhà Anh Lê Văn B tại xã MH, huyện Ch n Thành trộm cắp 01 két sắt bên trong có 30.000.000 đồng. Trị giá két sắt là 4.800.000đ. Tổng tài sản mà L và A trộm cắp của anh B là 34.800.000 đồng. Ngày 06/12/2019 Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A trộm cắp tài sản của bà Lê Thị Th tại xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng trị giá 43.888.560 đồng. Tổng tài sản mà L và A trộm cắp của Anh Lê Văn B và bà Lê Thị Th trị giá 78.688.560 đồng. Hành vi của Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A lần phạm tội tr ớc đây đã tái phạm nguy hiểm ch a đ c xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” nên truy tố theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số số 32/CTr-VKS-CT ngày 01/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài s n” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa ph ng, là khách thể đ c pháp luật bảo vệ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, các bị cáo nhận thức đ c việc lén lút chiếm đoạt tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp luật nh ng do muốn có tiền tiêu xài một cách bất chính nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy cả hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại c quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo L, ngày 10/11/2020 đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, nên đ c h ởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 19/11/2019 bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A lén lút đột nhập vào nhà Anh Lê Văn B tại xã MH, huyện Ch n Thành trộm cắp tài sản. Ngày 06/12/2019 Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A tiếp tục trộm cắp tài sản của bà Lê Thị T tại xã M, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng. Đối với bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A nh trên đã đề cập, đã bị TAND huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình D ng xét xử về hành vi trộm cắp tài sản ngày 06/12/2019 của chị Lê Thị Th tại xã MT, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng theo bản án số 16/2020/HS-ST ngày 15/5/2020; tuy nhiên, tại phiên tòa và trong quá trình điều tra vụ án này, bị cáo A không khai ra Trần Thế L. Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 15/5/2020 đã có hiệu lực pháp luật, nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên với bị cáo A. Riêng bị cáo L phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đ n, bị cáo Trần Thế L là khởi x ớng, bị cáo A cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Cả 02 bị cáo đều đã bị kết án nhiều lần về tội chiếm đoạt ch a đ c xóa án tích; do đó cần xem xét xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ng a chung;

Trong vụ án này do bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A đang chấp hành hình phạt tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự s thẩm số: 16/2020/HS-ST ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng,tỉnh Bình D ng nên cần tổng h p hình phạt theo quy định Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, Bị hại Lê Văn B yêu cầu các bị cáo L và A phải bồi th ờng toàn bộ tài sản mà các bị can đã chiếm đoạt là 34.800.000 đồng (Ba m i bốn triệu tám trăm ngàn đồng).

Đối với chị Lê Thị Th yêu cầu buộc các bị caó phải bồi th ờng số tiền 43.888.000đ (tính tròn số)

Xét yêu cầu đòi bồi th ờng thiệt hại của ng ời bị hại là có căn cứ, phù h p với các qui định tại điểm b Điều 46 BLHS, các điều 584, 585,587, 589 BLDS, nên cần buộc hai bị cáo liên đới bồi th ờng toàn bộ thiệt hại đã đ c xác định, mỗi bị cáo phải chịu ½ toàn bộ thiệt hại, cụ thể nh sau:

Bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A phải bồi th ờng cho anh Lê Văn B số tiền 17.400.000đ, bồi th ờng cho chị Lê Thị Th số tiền 21.944.000đ.

Bị cáo Trần Thế L phải bồi th ờng cho anh Lê Văn B số tiền 17.400.000đ, bồi th ờng cho chị Lê Thị Th số tiền 21.944.000đ.

Đối với 01 l ng vàng SJC, bị hại Lê Văn B trình báo đã bị mất trộm chung với số tiền 30.000.000 đồng để trong két sắt ngày 06/12/2019. Quá trình điều tra ch a chứng minh đ c. C quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc về tội danh, điều khoản áp dụng hình phạt đối là có căn cứ, phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử nênđ c chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

01 (một) két sắt màu xanh, nhãn hiệu “CHUBB” có kích th ớc 0,54 x 0,47 x 0,42 m, d ới đế có 4 bánh xe đẩy đã bị h hỏng không sử dụng đ c, nên thu hủy.

Án phí hình sự, dân sự s thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51; 50, 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thế L 05 (năm) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 10/11/2020;

Căn cứ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; 50, 38; Điều 17; Điều 50; 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo và Phạm Nguyễn Hoàng A 02 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, Tổng h p với hình phạt 03(ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự s thẩm số: 16/2020/HS-ST ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng. Hình phạt chung bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án tính t ngày 06/12/2019.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng qui định tại điểm b Điều 46 BLHS, các điều 584, 585,587, 589 BLDS: buộc hai bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A và Trần Thế L liên đới bồi th ờng toàn bộ thiệt hại cho anh Lê Văn B, cho chị Lê Thị Th, cụ thể nh sau:

Bị cáo Phạm Nguyễn Hoàng A phải bồi th ờng choAnh Lê Văn B số tiền 17.400.000đ, bồi th ờng cho chị Lê Thị Th số tiền 21.944.000đ.

Bị cáo Trần Thế L phải bồi th ờng cho anh Lê Văn B số tiền 17.400.000đ, bồi th ờng cho chị Lê Thị Th số tiền 21.944.000đ.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy 01 (một) két sắt màu xanh, nhãn hiệu “CHUBB” có kích th ớc 0,54 x 0,47 x 0,42 m, d ới đế có 4 bánh xe đẩy đã bị h hỏng đã tạm giữ do không còn giá trị sử dụng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự s thẩm: Các bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án phí dân sự s thẩm: Bị cáo Trần Thế L và Phạm Nguyễn Hoàng A phải chịu mỗi bị cáo 2.500.000đồng.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, đ c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ