- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HS-ST Ngày: 01/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 01/4/2021, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2021/TLST-HS ngày 05/3/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 17/3/2021 đối với bị cáo:
Dương Văn S (tên gọi khác: không), sinh năm 1994.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm Cầu Cát, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoat đảng theo Quyết định số 18/UBKTHU ngày 26/3/2021); con ông Dương Văn S và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
* Bị hại: Anh Lê Công T, sinh năm 1977; trú tại: xóm Tơm 1, xã Thành Công, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Hà Ngô Trung A, sinh năm 1993; trú tại: tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; trú tại: tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 14/11/2020, Dương Văn S đi xe mô tô từ nhà đến khu vực cổng Nam Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam - Thái Nguyên và gửi xe vào nhà xe 24/24. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Sơn đi bộ đến phòng tập thể hình thẩm mỹ Ryan Fitness thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Khi đến nơi, S phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20H1-500.53 đang dựng trước cửa phòng tập, S biết đây là chiếc xe mô tô của anh Lê Công T (sinh năm 1977, trú tại: xóm Tơm 1, xã Thành Công, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) là người đang có mâu thuẫn với Sơn trong việc mua bán phòng tập thể hình. Do thấy không có người trông coi nên S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. Quan sát xung quanh không có người, Sơn tiến đến kéo cửa cuốn, đóng kín cửa ra vào để che camera bên trong, sau đó dắt chiếc xe mô tô BKS 20H1-500.53 chạy vào trong chợ Samsung tìm kiếm nhà nghỉ nhằm cất giấu chiếc xe. Sơn dắt chiếc xe mô tô trộm cắp được vào nhà nghỉ Minh Anh thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến định gửi xe thì bị tổ tuần tra Công an phường Đồng Tiến phát hiện, kiểm tra. Quá trình kiểm tra, S không xuất trình được giấy tờ và thừa nhận chiếc xe mô tô là do trộm cắp được mà có.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 97/KLĐG ngày 23/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã Phổ Yên kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1-500.53; màu sơn trắng - đen - bạc, dung tích 109,1cm3, số máy JA39E1146595; số khung 3913KY284646, đăng ký lần đầu tháng 8 năm 2019, hiện trạng phương tiện còn nguyên vẹn và sử dụng bình thường; giá trị còn lại của xe là 16.300.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Về phần dân sự: Bị hại là anh Lê Công T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 04/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng đã bị thu giữ.
Bị hại xác định đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác. Về phần hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Sơn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Dương Văn S mức án từ 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1-500.53; màu sơn trắng - đen - bạc, dung tích 109,1cm3, số máy JA39E1146595; số khung 3913KY284646 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Công Tiến quản lý, sử dụng nên không xem xét, xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác nên không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo, bị hại đều không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, kiểm sát viên, bị cáo, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt những người làm chứng. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của người làm chứng nên sự vắng mặt họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản sự việc, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/11/2020, tại nhà xe phòng tập thể hình thẩm mỹ Ryan Fitness thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1-500.53 trị giá 16.300.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Lê Công T. Khi S đang mang chiếc xe trên đi cất dấu tại Nhà nghỉ Minh Anh thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thị bị Tổ công tác Công an phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản”. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.300.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 04/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan.
Nội dung Điều 173 quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Xét tính chất vụ án: hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi với lỗi cố ý, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nhân thân: Bị cáo được gia đình nuôi ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học, sau đó sinh sống và lao động tại địa phương, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng), bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; năm 2016 bị cáo đã được Trường quân sự Quân khu I tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong học tập nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội đã thật sự thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và lời thỉnh cầu của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo xét thấy là phù hợp được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Hiện bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20H1-500.53 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Công T để quản lý, sử dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Văn S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Sơn.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại là anh Lê Công T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Dương Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư Pháp tỉnh TN; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thị xã Phổ Yên; - Công an thị xã Phổ Yên; - Chi cục THADS thị xã Phổ Yên;. - UBND xã Nga My, huyện Phú Bình - Bị cáo, bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Toàn |