vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

phạm tội " Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bùi Văn D 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 05 tháng 7 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? phạm tội " Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS - ST
Ngày 27- 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Trung Thành

Ông Phạm Đức Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Hải - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2021/TLST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Bùi Văn D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1997 tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn , xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N ( đã chết) và bà Bùi Thị L; bị cáo chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị D, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án: Tại Bản án số 02/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2020

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/3/2019 bị Công an xã Ngọc Liên, huyện Ngọc Lặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng, bị cáo chưa nộp tiền phạt và đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2021, tạm giam từ ngày 08/7/2021, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ngọc Lặc. Có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Quách Công Đ, sinh năm 1974. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn , xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

+ Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Làng M, xã Đ, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1978. Vắng mặt. Nơi cư trú: Làng M, xã Đ, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

+ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964. Vắng mặt. Nơi cư trú: Làng Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 22/5/2021 Bùi Văn D đi bộ từ nhà đến các thôn trong xã N với mục đích xem nhà ai có tài sản để trộm cắp, khi đến nhà anh Quách Công Đ, thấy nhà anh Đ đã tắt điện đi ngủ, nên D đi vòng ra phía sau vào khu nuôi nhốt gia cầm và bắt trộm 02 con gà mái, một con màu lông đen nặng khoảng 1,7 kg và 01 con màu lông nâu nặng khoảng 1,3 kg và bắt trộm 01 con ngan mái màu lông đen, trắng nặng khoảng 02kg. Sau khi trộm cắp được D mang số gà và ngan đi tìm nơi để bán, trên đường đi bị Công an xã N bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra khi đang chờ kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản để xác định giá trị tài sản bị cáo trộm cắp ngày 22/5/2021 để có căn cứ giải quyết vụ án, Bùi Văn D lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể:

Khoảng 07 giờ ngày 05/7/2021, D đi bộ từ nhà mình đến xã Đ, huyện N với mục đích tìm tài sản để trộm cắp, khi đến nhà bà Phạm Thị L thấy nhà bà L không có ai ở nhà nên D đi vào và lấy trộm 01 chiếc xe đạp điện đang để trong nhà bếp, do xe hết điện không đi được nên D dắt xe đi về hướng trung tâm xã Đ để tìm nơi bán, khi D dắt xe ra khỏi nhà bà L thì có anh Phạm Văn Đ là hàng xóm nhà bà L nhìn thấy, nên anh Đ gọi điện thoại báo cho bà L. Sau đó bà L nhờ anh Đ và ông Phạm Văn T cùng bà L đuổi theo D, khi đến làng Đ, xã Đ thì phát hiện D đang dắt chiếc xe đạp điện nên đã cùng người dân xung quanh bắt giữ D và báo chính quyền địa phương giải quyết.

Đối với tài sản bị cáo trộm cắp ngày 22/5/2021, tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 11/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Ngọc Lặc đã kết luận: Tài sản định giá gồm 01 con gà mái, màu lông đen, trọng lượng 1,7 kg; 01 con gà mái màu lông nâu, trọng lượng 1,3 kg và 01 con ngan mái màu lông đen, trắng, trọng lượng 02 kg. Giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra vụ việc là: 520.000 đồng.

Đối với tài sản bị cáo trộm cắp ngày 05/7/2021, tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KL- HĐĐG ngày 27/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Ngọc Lặc đã kết luận: Tài sản định giá là 01 xe đạp điện nhãn hiệu ICATS HTC BIKE, màu sơn đỏ- đen, sản xuất năm 2015, có giá trị tài thời điểm xảy ra vụ việc là 2.150.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 02 con gà mái và 01 con ngan mái. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Quách Công Đ.

- 01 xe đạp điện nhãn hiệu ICATS HTC BIKE, màu sơn đỏ- đen, Cơ quan CSĐT công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị L.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSNL, ngày 26/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc đã truy tố Bùi Văn D, về tội " Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn D từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét.

Về vật chứng: Các vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật, nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại Quách Công Đ và Phạm Thị L vắng mặt tại phiên tòa, bà L có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, của những người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 22/5/2021 tại thôn 9, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Văn D có hành vi trộm cắp 02 con gà và 01 con ngan của anh Quách Công Đ trị giá tài sản trộm cắp là 520.000 đồng và ngày 05/7/2021 tại làng M, xã Đ, huyện N, Bùi Văn D có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp điện nhãn hiệu ICATS HTC BIKE, màu sơn đỏ - đen, của bà Phạm Thị L, trị giá 2.150.000 đồng, Tổng tài sản trộm cắp có trị giá 2.670.000 đồng. Hành vi trộm cắp tài sản trị giá 2.670.000 đồng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội " Trộm cắp tài sản" theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc đối với bị cáo Bùi Văn D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự xã hội được duy trì, tài sản của công dân được bảo vệ; Để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản riêng biệt, lần 1 ngày 22/5/2021 tuy tài sản trộm cắp trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng ngày 27/02/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 02/2020/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2020, tính đến thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích; lần 02 ngày 05/7/2021 trị giá tài sản bị trộm cắp là 2.150.000 đồng, cả hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại bà Phạm Thị L đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy một tệ nạn bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm, bị cáo đã bị kết án, mới chấp hành xong hình phạt tù lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân và không có khả năng tự cải tạo. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, trong một thời hạn nhất định để trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã nhận lại các tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên không xem xét.

Vật chứng của vụ án: Các vật chứng của vụ án gồm 02 con gà mái và 01 con ngan mái, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Quách Công Đ; 01 xe đạp điện nhãn hiệu ICATS HTC BIKE, màu sơn đỏ- đen, Cơ quan CSĐT công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị L đúng quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D

phạm tội " Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

3. Xử phạt: Bùi Văn D 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 05 tháng 7 năm 2021.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Văn D phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N¬i nhËn:

Cỡ chữ