vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trịnh Văn L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày: 26 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Tảo.

2. Bà Trương Thị Dung.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Cấp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2021/TLST - HS ngày 05 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn L, sinh năm 1990 tại xã D, huyện Y, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Trịnh Văn Sơn, sinh năm 1958 và bà Trần Thị O, sinh năm 1960 trú tại xã D, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Tòng Thị Q, sinh năm 1992 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2013; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 24/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 09/3/2021 chấp hành xong; nhân thân: Tại Bản án số 37/2012/HSST ngày 22/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù giam về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Tại Quyết định số 19/2016/QĐ-TA ngày 02/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/7/2021 đến ngày 03/7/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Bà Trần Thị O, sinh năm 1960. Có mặt.

Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1987. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu sài cá nhân, Trịnh Văn L điều khiển xe mô tô BKS 18D1-234.58 đi tìm nhà nào có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 12h30 ngày 30/4/2021, L thấy xưởng làm đỗ gỗ của anh Nguyễn Văn T ở thôn Dương, xã Yên Dương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định không có ai trông coi, cửa cài then trong, có treo khóa nhưng móc không khóa. L dùng tay luồn qua ô cài khóa rồi tháo khóa mở cửa đi vào xưởng tìm tài sản. L nhìn thấy trên nền phía trong xưởng có để một máy cắt gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 583 và một máy soi gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 362 và một số loại máy cầm tay khác. L lấy chiếc máy cắt gỗ và chiếc máy soi gỗ mang ra ngoài để tại vị trí giữa xe mô tô rồi điều khiển xe mang theo hai chiếc máy vừa trộm cắp được theo trục đường xã Yên Dương đi Yên Mỹ để tìm chỗ tiêu thụ tài sản. L nhìn thấy cửa hàng mua, bán các loại máy móc, đồ gia dụng của anh Trần Ngọc C và mang hai chiếc máy bán cho anh C với số tiền 1.050.000 đồng, rồi dùng số tiền này tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 02/5/2021 anh Nguyễn Văn T có đơn trình báo, cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên đã tiến hành kiểm tra, xác minh, thu giữ 01 chiếc máy cắt gỗ và 01 chiếc máy soi gỗ tại nhà anh Trần Ngọc C.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/ĐGTS ngày 10/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ý Yên kết luận: Sau khi nghiên cứu hồ sơ của cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên cung cấp, căn cứ vào giá thị trường qua khảo sát tại các cửa hàng mua - bán, kinh doanh máy ngành gỗ trên địa bàn huyện Ý Yên và Biên bản định giá tài sản ngày 10/6/2021, Hội đồng định giá tài sản thống nhất giá trị của 01 máy cắt gỗ cầm tay là 900.000 đồng và giá trị của 01 máy soi gỗ cầm tay là 1.100.000 đồng. Tổng giá trị hai chiếc máy là 2.000.000 (hai triệu) đồng.

Ngày 01/7/2021 cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trịnh Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 01/7/2021 Trịnh Văn L bị công an xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định bắt quả tang về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 03/7/2021 cơ quan CSĐT - Công an huyện Vụ Bản khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Văn L về tội " Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với anh Trần Ngọc C là người mua 01 máy cắt gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 583 và 01 máy soi gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 362 là vật chứng của vụ án. Anh C không biết số tài sản trên do L trộm cắp mà có nên cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên không có căn cứ để xử lý đối với C về tội " Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh T theo quy định.

Về tài sản liên quan: Chiếc xe mô tô BKS 18D1-234.58 mà Trịnh Văn L sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội mang tên bà Trần Thị Oánh. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, L đã bán chiếc xe trên để lấy tiền tiêu sài. Bà Trần Thị Oánh không có đề nghị gì, do đó cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Ngọc C yêu cầu Trịnh Văn L bồi thường thiệt hại là số tiền 1.050.000 đồng là số tiền anh C mua lại hai chiếc máy nêu trên của Trịnh Văn L.

Tại cơ quan điều tra Trịnh Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 49/CT- VKS.YY ngày 04/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Trịnh Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai về nhân thân đã học bổ túc cấp 3 nhưng không lấy được bằng. Bị cáo khẳng định bản thân chỉ có bằng 9/12. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 49/CT - VKS-YY ngày 04/8/2021 và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự tuyên bố Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt Trịnh Văn L từ 12 tháng đến 18 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc máy cắt gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 583 và 01 chiếc máy soi gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 362 là vật chứng của vụ án, cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã trả lại cho anh T, anh T đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác về bồi thường thiệt hại dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Trịnh Văn L phải bồi thường thiệt hại số tiền 1.050.000 đồng là tiền anh C mua lại hai chiếc máy của Trịnh Văn L.

Bị cáo có ý kiến tranh luận: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại có ý kiến tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến tranh luận: Do điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, hiện đang nuôi con nhỏ nên không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.050.000 đồng. Ngoài ra không còn yêu cầu, đề nghị gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản thu giữ tang vật, tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12h30 ngày 30/4/2021 lợi dụng sơ hở trong việc trong coi, quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn T tại thôn D, xã D, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Trịnh Văn L đã lén lút, đột nhập vào xưởng gỗ lấy trộm một máy cắt gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu maktec MT 583 và một máy soi gỗ cầm tay sơn màu đỏ nhãn hiệu Maktec MT 362. Tổng tài sản mà L trộm cắp có trị giá 2.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên tình hình mất trật tự trị an xã hội nói chung, ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương, gây sự bất bình trong nhân dân. Vì muốn thoả mãn nhu cầu của cá nhân, coi thường pháp luật mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Trịnh Văn L Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24/7/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 09/3/2021 chấp hành xong, bị cáo chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trịnh Văn L là đối tượng nghiện ma tuý, là người có nhân thân xấu, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định và không sở hữu tài sản gì lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã trả lại cho anh T, anh T đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác về bồi thường thiệt hại dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh C không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.050.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của anh C, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời Hội đồng xét xử xác định anh C tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là người làm chứng.

Bà Trần Thị Okhông có yêu cầu gì đối với bị cáo về việc bị cáo bán chiếc xe mô tô BKS 18D1-234.58 nên được Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt Trịnh Văn L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ