vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 08/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Lô Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020 Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày 08-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Luân

Bà Lê Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Cương-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 08/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HS ngày 25/02/2021 đối với bị cáo:

Lô Văn N, sinh năm 1984; HKTT: Bản K, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Giớ i tí nh: N; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Lô Văn T, sinh năm 1959 và con bà Lương Thị L, sinh năm 1971; Có vợ Lương Thị Đ, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 120/2013/HSST ngày 19/12/2013 của TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt Lô Văn N 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 BLHS, 15 tháng tù về tội “Trốn khi đang dẫn giải” theo quy định tại Khoản 1 Điều 311 BLHS năm 1999. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 24 tháng tù. Ngày 13/7/2015 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí ngày 03/3/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt

* Bị hại: Anh Nguyễn Mậu T, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 14/12/2020, Lô Văn N đi bộ từ nhà trọ tại xóm L, thôn D, xã Đ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đi lang thang quanh khu vực thôn D để xem gia đình nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 9 giờ 15 phút cùng ngày, N đi đến nhà anh Nguyễn Mậu T ở thôn Dương H thì phát hiện cửa cổng nhà anh T đóng nhưng không khóa. N thấy bên trong sân có dựng một chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Momentum màu đỏ - đen, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện của xe. Quan sát xung quanh không thấy có người đi lại, N liền đi đến vị trí cổng nhà anh T, thò tay qua khe cửa mở chốt cổng rồi vào trong sân dắt chiếc xe đạp điện ra ngoài. Dắt xe đi được khoảng 100m, N ngồi lên xe mở khóa nhưng không nổ máy được. Sợ bị người dân phát hiện nên N bỏ lại chiếc xe bên lề đường rồi đi bộ về phòng trọ.

Khoảng 10 giờ cùng ngày anh T phát hiện chiếc xe đạp điện bị trộm cắp. Anh T đã kiểm tra camera an ninh của gia đình thì phát hiện N là đối tượng trộm cắp chiếc xe của anh. Cùng ngày, anh T đã trình báo cơ quan Công an huyện Tiên Du và cung cấp hình ảnh trích xuất camera thời điểm chiếc xe bị trộm cắp. Đến 11 giờ ngày 14/12/2020 cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du đã triệu tập N lên làm việc. Tại cơ quan điều tra N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đồng thời N tự nguyện giao nộp trang phục N mặc khi trộm cắp chiếc xe điện gồm: 01 đôi dép bằng cao su màu đen phần quai dép có 04 vạch kẻ màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu trắng; 01 áo khoác gió màu đen; 01 quần dài bằng vải màu xanh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 114/KL-ĐGTSTTHS ngày 15/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du, kết luận: 01 chiếc xe điện Momentum sơn màu đỏ - đen có giá trị còn lại là 3.500.000 đồng.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 16/CT - VKS ngày 08/02/2021 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du truy tố bị cáo Lô Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo N khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Sáng ngày 14/12/2020, bị cáo đột nhập vào nhà anh T lấy chiếc xe đạp điện. Sau khi dắt xe đạp điện ra ngoài, bị cáo mở khóa xe điện nhưng không nổ máy được nên bị cáo đã bỏ lại lề đường. Bị cáo không xin lại trang phục đã nộp cho cơ quan Công an.

Bị hại anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 29/01/2021 cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du đã trả lại chiếc xe đạp điện cho anh. Sau khi nhận lại chiếc xe điện, anh không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 16/CT- VKS ngày 08/02/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lô Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

3/ Về trách nhiệm dân: Không đề cập giải quyết

4/ Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép lê, 01 mũ lưỡi trai màu trắng, 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần dài bằng vải màu xanh.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 15 phút ngày 14/12/2020, bị cáo Lô Văn N lén lút đột nhập vào nhà anh Nguyễn Mậu T ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh lấy 01 chiếc xe đạp điện Momentum sơn màu đỏ - đen trị giá 3.500.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn gây tâm lý hoang mang, mất trật tự trị an nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và có nhân thân xấu. Ngày 19/12/2013 bị cáo bị TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Trốn khi đang dẫn giải”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không lấy làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Qua đây thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã trả bị hại chiếc xe đạp điện, anh T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Sau khi hành vi phạm tội bị phát giác, bị cáo có tự nguyện giao nộp trang phục bị cáo mặc khi trộm cắp chiếc xe đạp điện. Hội đồng xét xử nhận thấy giá trị sử dụng thấp nên quyết định tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép lê, 01 mũ lưỡi trai màu trắng, 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần dài bằng vải.

Quá trình điều tra, N đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào những ngày trước khi bị bắt, tuy nhiên N không nhớ địa điểm cụ thể nên chưa có đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Lô Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép lê, 01 mũ lưỡi trai màu trắng; 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần dài bằng vải màu xanh.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du)

4.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ