vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021. Về xử lý vật chứng: p dụng điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK NÔNG
Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày 23-12-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Giang Nam và ông Phạm Đình Bông.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên

toà: Bà Đỗ Thị Thơm– Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 01/12/2003, tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn Nam C, xã Nam Đ, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 02 tiền sự; cụ thể: Ngày 28/12/2020 bị Công an huyện Krông Nô xử phạt tiền: 750.000 về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 121/QĐ-XPHC ( Tr đã nộp phạt ngày 29/12/2020); Ngày 02/02/2021 bị Công an xã Nam Đà xử phạt số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ( Tr chưa nộp phạt theo quy định). Ngày 08/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô sử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 08/9/2021, chưa chấp hành bản án. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/9/2021- Có mặt.

2. Bị hại: Ông Đặng Bá C, bà Nguyễn Thị Phương Tr – Vắng mặt

Cùng trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn Đăk M, huyện Krông Nô.

3. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Tr: Ông Nguyễn Văn Khánh – Luật sư, Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đăk Nông - Có mặt.

4 Người có quyền lợi nhĩa vụ liên quan:

4.1 Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; trú tại Thôn Nam C, xã Nam Đ,

huyện Krông Nô – Có mặt.

4. 2 Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 28/6/2003; trú tại Thôn Đăk H, xã Đăk

D, huyện Krông Nô – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/8/2021, Nguyễn Văn Tr (sinh ngày: 01/12/2003, trú tại: Thôn Nam C, xã Nam Đ, huyện Krông Nô) điều khiển xe đạp, loại xe nữ, nhãn hiệu Green, màu bạc đến nhà anh Lê Tiến Đ (sinh năm: 2000) ở cùng thôn chơi thì gặp Nguyễn Tiến Đ (sinh ngày: 28/6/2003, trú tại: thôn Đắk H, xã Đắk D, huyện Krông Nô), Tr rủ Đ đi sang khu vực thị trấn Đắk M tìm hái trộm sầu riêng thì Đ đồng ý. Tr chở Đ bằng xe đạp đi đến khu vực rẫy sầu riêng của ông Đặng Bá C tại tổ 4, thị trấn Đắk M, huyện Krông Nô. Tr để xe đạp gần 01 chòi rẫy cách rẫy sầu riêng nhà ông C khoảng 150m và nhặt 01 bao xác rắn tại đây, rồi Tr và Đ đi qua chỗ hàng rào lưới B40 đã bị ngả xuống trước đó để vào rẫy nhà ông C. Tại đây, Tr nhặt 03 (ba) quả sầu riêng, Đ nhặt 04 (bốn) quả sầu riêng bỏ vào bao xác rắn rồi mang ra ngoài rẫy cà phê gần đó, Tr và Đ bổ 01 (một) quả ra ăn, còn 06 (sáu) quả đặt lên phía sau xe đạp chở về nhà, khi đi đến đường trục 10 thuộc thôn Nam Phú, xã Nam Đà thì bị lực lượng Công an xã Nam Đà phát hiện mời về Trụ sở làm việc. Quá trình điều tra xác định được 07 (bảy) quả sầu riêng Tr và Đ trộm cắp vào ngày 16/8/2021 có tổng trọng lượng: 16kg (mười sáu ki lô gam).

Ngày 27/8/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 25 định giá đối với tài sản gồm: 07 quả Sầu riêng Mon Thon Thái Lan do bị cáo Tr và Đ trộm cắp của ông C có tổng trọng lượng là 16 kg, tại thời điểm định giá ngày 16/8/2021là bao nhiêu tiền.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG, ngày 27/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Nô kết luận: giá trị của 16 kg sầu riêng, loại sầu riêng Mon Thon Thái Lan bị chiếm đoạt vào ngày 16/8/2021 là 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngày 13/9/2021 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Krông Nô đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Tr.

Qúa trình điều tra Nguyễn Văn Tr còn khai nhận: Ngoài lần cùng Đ trộm sầu riêng vào ngày 16/8/2021 thì trước đó vào khoảng 16 giờ ngày 08/8/2021 Đ và Tr trên đường đi làm về thấy vườn sầu riêng nhà ông C, Đ đã rủ Tr vào lấy trộm 05 (năm) quả sầu riêng, khi đưa được số sầu riêng ra khu vực rẫy cà phê giáp rẫy nhà ông C thì bị ông C phát hiện, sau đó Tr và Đ đã xin ông C, được ông C cho số sầu riêng đã trộm cắp được mang về.05(năm) quả sầu riêng trộm cắp vào ngày 08/8/2021 có tổng trọng lượng 09kg (chín ki lô gam); là loại sầu riêng Mon Thon Thái Lan.

Ngày 26/10/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 31 định giá đối với tài sản gồm: 05 quả Sầu riêng Mon Thon Thái Lan do bị cáo Tr và Đ trộm cắp của ông C có tổng trộng lượng là 09kg, tại thời điểm định giá ngày 08/8/2021 là bao nhiêu tiền. Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG, ngày 28/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Nô kết luận: giá trị của 09kg sầu riêng, loại sầu riêng Mon Thon Thái Lan bị chiếm đoạt vào ngày 08/8/2021 là 315.000 đồng (Ba trăm mười lăm nghìn đồng)

Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 16/8/2021 và ngày 08/8/2021 bị cáo Nguyễn Văn Tr đã có 02 (hai) tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa tiền sự mà tiếp tục trộm cắp nên; Ngày 13/9/2021 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Krông Nô đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Tr về tội trộm cắp tài sản.

Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 22/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan.

Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt, tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021. Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt: Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Krông Nô. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021.

Các biện phát tư pháp:

Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra Công an thu giữ:

- 01 (một) bao xác rắn, bên trong có 06 quả sầu riêng, có tổng trọng lượng 14kg (có đặc điểm như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu)

- 01 (một) xe đạp, loại xe đạp nữ, hiệu Green đã cũ, màu bạc.

Vật chứng xử lí như sau:

Quá trình điều tra xác định được chiếc xe đạp, loại xe đạp nữ, hiệu Green đã cũ, màu bạc là của ông Nguyễn Văn H (sinh năm: 1962, trú tại: Thôn Nam C, xã Nam Đ, bố của Tr), việc Tr sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ông H không biết Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả lại 01 xe đạp, loại xe đạp nữ, hiệu Green đã cũ, màu bạc cho ông H.

Chấp nhận việc Công an thị trấn Đắk Mâm trả lại cho ông Đặng Bá C 06 (sáu) quả sầu riêng (có đặc điểm như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vợ chồng ông Đặng Bá C, bà Nguyễn Thị Phương Tr đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có tài sản riêng, gia đình có hoàn C khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, song tại cơ quan điều tra đã có lời khai, xác định sự việc là đúng.

Tại phiên tòa người bào chữa tham gia phiên tòa, trình bày lời bào chữa cho bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 173, các điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau;

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/8/2021, Nguyễn Văn Tr điều khiển xe đạp, loại xe nữ, nhãn hiệu Green, màu bạc chở Nguyễn Tiến Đ đến rẫy của ông Đặng Bá C tại tổ 4, thị trấn Đắk M, huyện Krông Nô để lấy trộm sầu riêng, tại đây Tr và Đ đã lấy của gia đình ông C 07 (bảy) quả sầu riêng, có giá trị là 560.000 đồng. Ngoài ra trước đó vào khoảng 16 giờ ngày 08/8/2021 cũng tại vườn sầu riêng trên, Tr và Đ đã trộm cắp của gia đình ông C 05 (năm) quả sầu riêng, có giá trị là 315.000 đồng, mặc dù số tiền chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên bị cáo Tr đã có 02 tiền sự về tội trộm cắp tài sản, cụ thể 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (vào ngày 28/12/2020 và ngày 02/02/2021). Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Tr đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng và bản luận tội mà Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông đã truy tố đối với bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các Tr hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...”

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác bị pháp luật trừng trị, nhưng vì lợi ích cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 875.000 đồng. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có một mức án, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và bị cáo có nhân thân xấu.(Do bị cáo có 02 tiền sự lại 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp; 01 tiền sự làm tình tiết định tội, 01 tiền sự làm tình tiết tăng nặng).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, gây thiệt hại không lớn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi nhưng tại thời điểm bị cáo phạm tội ngày 08/8/2021, bị cáo mới 17 tuổi 07 tháng 11 ngày (sinh ngày 01/12/2003), khả năng nhận thức của bị cáo còn hạn chế, nên khi quyết định hình phạt sẽ áp dụng Điều 91của Bộ luật hình sự để xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Mức hình phạt của bị cáo chỉ bằng ¾ so với người thành niên phạm tội theo khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoảng 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt: Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu hình phạt chung của hai bản án, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021.

Xét đề nghị của người bào chữa về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất, HĐXX xét thấy một số vấn đề trình bày của người bào chữa là phù hợp nên cần chấp nhận, đối với mức đề nghị của người bào chữa áp dụng đầu khung của mức hình phạt HĐXX xét thấy chưa phù hợp nên không chấp nhận, lý do bị cáo tuy rằng nhỏ tuổi nhưng thường xuyên cùng nhóm bạn trộm cắp tài sản của người khác, liều lĩnh cụ thể chiều ngày 08/8/2021 thực hiện trộm cắp Sầu riêng của nhà ông C, đến ngày 16/8/2021 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, trong khoảng thời gian từ thánh 4/2021 đến tháng 08/2021 bị cáo liên tục thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù bị công an xã bắt về làm việc đối với hành vi trộm cắp vào buổi sáng nhưng đến tối bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm trộm cắp, thậm chí trong thời gian chờ xét xử vụ án hình sự của bị cáo, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, nên phải xử bị cáo mức án trên khung khởi điểm so với đề nghị cảu người bào chữa.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 91, 101 và Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 12 đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị mà vị đại diện Viện kiểm sát đề ra là cao hơn so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Từ những nhận định nêu trên, xét hoàn cảnh, điều kiện phạm tội, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn Tr ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo và giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

.Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp với pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: p dụng điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

Chấp nhận việc Công an thị trấn Đăk Mâm, huyện Krông Nô trả lại cho ông Đặng Bá C 06 quả sầu riêng (có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật và biên bản vụ việc);

Chấp nhận việc Công an huyện Krông Nô trả lại cho ông Nguyễn Văn H. 01 (một) xe đạp, loại xe đạp nữ, hiệu Green đã cũ, màu bạc.

Đối với hành vi cùng Tr đi trộm cắp tài sản của Nguyễn Tiến Đ: do Đ không có tiền án, tiền sự gì, giá trị tài sản chiếm đoạt 875.000 đồng dưới 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ, Cơ quan Công an huyện Krông Nô đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đ là đúng theo quy định của pháp luật cần chấp nhận.

.Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021.

Áp dụng khoảng 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt: Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/9/2021.

Về xử lý vật chứng: p dụng điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận việc Công an thị trấn Đăk Mâm, huyện Krông Nô trả lại cho ông Đặng Bá C 06 quả sầu riêng (có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật và biên bản vụ việc);

Chấp nhận việc Công an huyện Krông Nô trả lại cho ông Nguyễn Văn H. 01 (một) xe đạp, loại xe đạp nữ, hiệu Green đã cũ, màu bạc. (có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật và biên bản vụ việc);

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

+ Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ