vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Về quyền kháng cáo: Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày 19/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Năng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khanh

Ông Huỳnh Hoàng Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Đặng Văn T, sinh năm 1993 tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ (văn hóa) học vấn: 5/12; tân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C và bà Phạm Thị H; bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn; tiền án: Không; tiền sự: Có 1 tiền sự về hành vi “Trộm cắp T sản”, bị Công an xử phạt hành chính theo Quyết định số 13/QĐ-XPHC, ngày 29/7/2020; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2021 đến cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

Những người bị hại:

- Ông Hồ Thanh T, sinh năm: 1978 (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Ông Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1983 (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Ông Lê Văn Đ - Sinh năm: 1966 (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Ông Nguyễn Văn C - Sinh năm: 1985 (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31 tháng 7 năm 2021, bị cáo Đặng Văn T đi bộ từ trụ sở Công an xã Thạnh Hưng về nhà thuộc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trên đường về T lấy trộm 01 chiếc xuồng của người dân (không xác định được chủ sở hữu) bơi qua sông lên lộ bê tông đi bộ đến ghe của anh Nguyễn Văn H cư ngụ ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang đang đậu dưới kênh thấy không có người trông giữ, bị cáo T xuống ghe nằm ngủ. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01 tháng 8 năm 2021, bị cáo T xuống hầm ghe tìm bị cáo T sản để lấy trộm thì phát hiện hai bình ắc quy loại 12V – 100Ah nên lấy để ra ngoài phía sau đuôi ghe. Sau đó, bị cáo T đi bộ đến nhà anh Lê Văn Đ gần đó lấy trộm chiếc xuồng Composite, sau đó bơi đến chỗ ghe anh Nguyễn Văn H và mang hai bình ắc quy bỏ xuống xuồng bơi qua sông để mang lên bờ cất giấu.

Bị cáo T tiếp tục đi bộ về hướng cầu Đường Cày đến nhà anh Nguyễn Văn C thì phát hiện xe máy biến đăng ký số 68T6-7445 để trước hàng ba nhà. T lấy trộm dẫn xe ra ngoài khoảng 10m, nổ máy chuẩn bị chạy đi thì anh C phát hiện giữ T lại. T xin anh C bỏ qua đồng thời kêu anh C chở đến cầu kênh Ba Lan sẽ trả 100.000 đồng nên anh C đồng ý. Khi anh C chở T đến chỗ giấu hai cái bình ắc quy để lấy chở đi bán thì lúc này hai cái bình ắc quy đã bị anh Nguyễn Văn H phát hiện lấy lại mang về nhà trước đó. Anh C tiếp tục chở T đến kênh Ba Lan thì bị cáo T xuống xe bỏ đi. Ngoài ra, khoảng 20 giờ ngày 31 tháng 7 năm 2021, Đặng Văn T cùng với Võ Minh Th cư ngụ ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang đi xe máy từ câu chữ Z, xã Thạnh Hưng về xã Thạnh Lộc để tìm T sản lấy trộm, khi đến đoạn cầu Đường Cày thuộc ấp Thạnh Nguyên, xã Thạnh Hưng, bị cáo T phát hiện vỏ máy của anh Hồ Thanh T đang đậu dưới bên không người trông giữ, bị cáo T đột nhập xuống vỏ cắt dây điện hai bình ắc quy loại 12V - 150Ah định lấy trộm mang đi thì bị anh Hồ Thanh T phát hiện truy hô nên bị cáo T và Võ Minh Th lên xe bỏ chạy.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; ngày 06/8/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Ways, loại xe Wave, màu xanh, biển đăng ký số 6876 - 7445, số máy 2FMH 300182, số khung PE6A " 300182, đã qua sử dụng.

- 02 cái bình ắc quy, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 100Ah, đã qua sử dụng.

- 01 chiếc xuồng Composite, dải 05m, màu xanh, đã qua sử dụng.

- 02 cái bình ắc quy, nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 150Ah, đã qua sử dụng

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/TĐG - CT/HĐĐG ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Superways, loại xe Wave, màu xanh biển đăng ký số 6876-745, số máy 2FMH 300182, số khung PE6A 300182, xe đăng ký vào tháng 4/2006, đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại 41% (4.000.000 đồng x 40 % = 1.600.000 đồng).

- 02 cái bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 100Ah, mua vào khoảng tháng 02/2019 đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại 50% (5.200.000 đồng x 50 %) = 2.600.000 đồng.

- 01 (một) chiếc xuồng Composite, dài 05m, màu xanh, mua vào tháng 4/2021, đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại: 50% (3.000.000 đồng x 50 %) = 1.500.000 đồng.

Tổng cộng: 5.700.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/TĐG - CT/HĐĐG ngày 20/8/2021 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận: 02 cái bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 150Ah, đã qua sử dụng theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại 60 % (0.100.000 đồng/cái x 60 %) x 02 cái = 3.720.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 45/CT - VKS ngày 14/9/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp T sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền C tố, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo T do bị cáo không có thu nhập ổn định và hiện đang phải cấp dưỡng nuôi con nhỏ.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho các chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường.

Riêng đối tượng Võ Minh Th hiện đã bỏ trốn và Cơ quan điều tra đang truy nã. Khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đặng Văn T: Bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không phạt bổ sung và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra công an huyện Giồng Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận:

Khoảng 20 giờ ngày 31 tháng 7 năm 2021, Đặng Văn T, Võ Minh Th đi xe máy từ cầu chữ Z, xã Thạnh Hưng về xã Thạnh Lộc để tìm T sản lấy trộm, khi đến đoạn cầu Đường Cây thuộc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang, bị cáo T đột nhập xuống vỏ máy của anh Hồ Thanh T cắt dây điện hai bình ắc quy loại 12V - 150Ah có giá trị 3.720.000 đồng để lấy trộm thì bị anh Hồ Thanh T phát hiện truy hô nên bị cáo T và Võ Minh Th lên xe bỏ chạy. Ngay sau đó bị cáo T bị Công an xã Thạnh Hưng mời về làm việc. Đến khoảng 22 giờ ngày 31 tháng 7 năm 2021 T được cho về; trên đường về bị cáo T đột nhập vào ghe của anh Nguyễn Văn H nằm ngủ. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01 tháng 8 năm 2021, T tiếp tục lấy trộm hai bình ắc quy loại 12V – 100Ah giá trị 2.600.000 đồng của anh Nguyễn Văn H. Sau đó, bị cáo T đi bộ đến nhà anh Lê Văn Đ gần đó lấy trộm chiếc xuồng Composite có giá 1.500.000 đồng bơi đến chỗ ghe anh H chở hai bình ắc quy qua sông mang lên bờ cất giấu. Bị cáo T tiếp tục vào nhà anh Nguyễn Văn C lấy trộm xe máy biển đăng ký số 68T6-7445 có gia trị 1.600.000 đồng thì bị anh C phát hiện giữ lại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/TĐG - CT/HĐĐG ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Superways, loại xe Wave, màu xanh biển đăng ký số 6876-745, số máy 2FMH 300182, số khung PE6A 300182, xe đăng ký vào tháng 4/2006, đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại 41% (4.000.000 đồng x 40 % = 1.600.000 đồng).

- 02 cái bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 100Ah, mua vào khoảng tháng 02/2019 đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại Tỷ lệ còn lại 50% (5.200.000 đồng x 50 %) = 2.600.000 đồng.

- 01 chiếc xuồng Composite, dài 05m, màu xanh, mua vào tháng 4/2021, đã qua sử dụng. Theo giá thị trường thời điểm hiện tại Tỷ lệ còn lại: 50% (3.000.000 đồng x 50 %) = 1.500.000 đồng.

Tổng cộng: 5.700.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/TĐG - CT/HĐĐG ngày 20/8/2021 của Hội đồng định giá huyện Giồng Riềng kết luận: 02 cái bình ắc quy nhãn hiệu Đồng Nai, loại 12V - 150Ah, đã qua sử dụng Theo giá thị trường thời điểm hiện tại: Tỷ lệ còn lại 60 % (0.100.000 đồng/cái x 60 %) x 02 cái = 3.720.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo về hành vi trộm cắp bị cáo T sản và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đối chiếu hành vi của bị cáo bị cáo T với quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Đặng Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Tại phiên tòa, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị. Nhưng chỉ vì lòng tham, lợi dụng sơ hở của người bị hại để ra tay trộm cắp. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính. Nhưng không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội. Do đó, việc bị cáo phạm tội và khởi tố về hành vi tương tự được xem là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do đó, có căn cứ cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX sẽ cân nhắc mức án phù hợp, đủ răn đe đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo đã có tiền sự nên được xem là nhân thân xấu.

. Về hình phạt bổ sung theo khoản 5, Điều 173 của Bộ luật Hình sự: bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang chấp hành án, việc Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại xác định đã nhận lại tài sản đầy đủ, không bị hư hỏng nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

. Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã trả tài sản cho sở hữu. Đồng thời không ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng.

. Riêng đối tượng Võ Minh Th hiện đã bỏ trốn và Cơ quan điều tra đang truy nã. Khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 01/8/2021.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2021). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ