vanban.org

Bản án 48/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị PTT và anh NVC là vợ chồng.

Về con chung: Giao con NTĐ, sinh ngày 07/12/2007 cho anh NVC trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); Chị PTT không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị PTT phải chịu án phí dân sự sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Thương xin ly hôn anh Nguyễn Văn Cừ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị PTT và anh NVC là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CP
TỈNH QN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia
đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CP, TỈNH QN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà TTT.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông NTQ.

2. Bà BTKL.

- Thư ký phiên tòa: Bà VTL - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CP tham gia phiên tòa: Bà TTTH - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CP, tỉnh QN, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 194/2021/TLST - HNGĐ ngày 01/6/2021, về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 12/7/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị PTT, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Thôn TĐ, xã TL, huyện VĐ, tỉnh QN. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh NVC, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ 20, khu 2, phường CP, thành phố CP, tỉnh QN. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 5 năm 2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị PTT trình bày: Năm 1994 Chị T và anh C được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, sau khi cưới hai người chung sống với nhau cho đến nay không đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, phường nào. Thời gian đầu chị T và anh C chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi chửi xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên cuối năm 2015 chị T và anh C sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh C để ổn định cuộc sống.

Anh NVC vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh C trình bày tại bản tự khai và biên bản hòa giải về thời gian chung sống với chị T mà không đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn của anh và chị T như chị T khai là đúng, từ năm 2014 đến nay anh và chị T mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau, vì vậy anh C cũng đề nghị ly hôn với chị T.

Chị T và anh C có 03 con chung là NTPT, sinh ngày 23/02/1994; NTT, sinh ngày 04/9/1999 và NTĐ, sinh ngày 07/12/2007. Chị T và anh C đều có quan điểm 2 con Thúy và Thùy đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con NTĐ cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị T không phải cấp dưỡng cho con chung.

Chị T và anh C không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo qui định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị PTT và anh NVC là vợ chồng. Giao con NTĐ, sinh ngày 07/12/2007 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố CP nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh NVC cư trú tại tổ 20, khu 2A, phường CP, thành phố CP, tỉnh QN. Theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố CP và thuộc trường hợp xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị PTT và anh NVC chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường CP, thành phố CP và Ủy ban nhân dân xã TL, huyện VĐ xác nhận. Xét thấy chị T và anh C không tuân thủ quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn, do vậy căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận chị PTT và anh NVC là vợ chồng.

Về con chung: Chị T và anh C có 03 con chung là Nguyễn Thị Phương Thúy, sinh ngày 23/02/1994; NTT, sinh ngày 04/9/1999 và NTĐ, sinh ngày 07/12/2007.

Hai con T và T đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết. Con NTĐ chưa thành niên, chị T và anh C có quan điểm anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con NTĐ cho đến khi thành niên, chị T không phải cấp dưỡng cho con Đạt là phù hợp với nguyện vọng của con Đạt, đảm bảo đúng quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị T và anh C không yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị T và anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 272 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 15; Khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận chị PTT và anh NVC là vợ chồng.

Về con chung: Giao con NTĐ, sinh ngày 07/12/2007 cho anh NVC trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); Chị PTT không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị PTT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005889 ngày 28/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CP, tỉnh QN. Chị PTT đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/7/2021).

Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ