- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phan Tấn H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 48/2020/HSST Ngày: 24 / 3 /2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Lê Xuân Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Giang và bà Trần Thị Quỳnh.
- Đại diện VKSND huyện Trảng Bom - tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Mạnh- Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát- Thư ký TAND huyện Trảng Bom.
Ngày 24 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở, TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 38/2020/TLST-HS, ngày 17/ 02/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2020/QĐST-HS, ngày 09/3/2020, đối với bị cáo:
Phan Tấn H1, sinh năm 1992, tại tỉnh Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú tại số: khu phố PK, phường VH, thị xã RG, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú tại: khu phố 5, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; học vấn: không đi học; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tấn H2, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; gia đình có 02 chị, em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt khẩn cấp, ngày 13/10/2019, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom, có mặt tại Tòa.
Người bị hại: Chị Hà Trường M, sinh năm 1999, trú tại khu phố BP, phường BN, thị xã DA, tỉnh Bình Dương, có mặt tại Tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 0 giờ 25 phút ngày 26/10/2019, Phan Tấn H1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave không rõ biển số lưu thông trên đường 3 tháng 2, khu phố 5, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để mua thức ăn. Khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường 3 tháng 2 và đường 30 tháng 4, H1 phát hiện chị Hà Trường M đang đi bộ phía trước cùng bạn dưới lòng đường 30 tháng 4, tay đang ôm túi xách để trước ngực, nên nảy sinh ý định cướp giật túi xách của chị M. H1 điều khiển xe mô tô chạy sát vào chị M và dùng tay trái giật túi xách của chị M rồi chạy về hướng đường tàu hỏa. Tại đây H1 kiểm tra thấy trong túi xách có một điện thoại di động OPPO hiệu A57, số tiền 7.000.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 thẻ ATM, H1 lấy tiền và điện thoại bỏ vào túi quần rồi vứt bỏ túi xách bên trong còn giấy tờ vào bải cỏ ven đường và chạy xe về phòng trọ ngủ. Đến ngày 30/9/2019, H1 đi đến nhà ông Phan Tấn Th là chú ruột của H1 ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh chơi và cho bà Lê Thị Thu H là vợ ông Th điện thoại di động hiệu OPPO A57, còn số tiền 7.000.000 đồng H1 tiêu xài hết.
Sau khi bị cướp giật tài sản, chị M đã đến Công an thị trấn Trảng Bom để trình báo, qua xác minh, Công an thị trấn Trảng Bom đã tiến hành mời Phan Tấn H1 làm việc, quá trình làm việc H1 thừa nhận hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên, đồng thời ông Phan Tấn H2 là cha ruột H1 đã mang điện thoại di động OPPO A57 mà H1 đã cho bà H lên giao nộp. Công an thị trấn Trảng Bom đã chuyển vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom xử lý theo thẩm quyền. Vật chứng thu giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A 57 màu đen.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu đen đã qua sử dụng trị giá 2.800.000 đồng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phan Tấn H1 để điều tra, quá trình điều tra H1 đã thừa nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hà Trường M.
Đối với chiếc giỏ xách bên trong có thẻ căn cước công dân và thẻ ATM mang tên Hà Trường M, Công an thị trấn Trảng Bom đã truy tìm nhưng không thấy, do tài sản không có giá trị lớn nên chị M không yêu cầu bồi thường. Chị M yêu cầu Phan Tấn H1 phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng. Tại phiên Tòa, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị M số tiền 1.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 61-CT/VKS-TB, ngày 17/ 02/ 2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Phan Tấn H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171- Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và ăn năn về hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Qua xét hỏi thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với nội dung vụ án vì vậy bản cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, do đó đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171-Bộ luật hình sự, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
- Buộc bị cáo bồi thường cho chị Hà Trường M số tiền 6.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Trên cơ sở nội dung vụ án và lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa thì thấy lời thừa nhận của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng phù hợp với với vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra thể hiện: Vào khoảng 0 giờ 25 ngày 26/9/2019, tại khu vực đường 30 tháng 4, khu phố 5, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Phan Tấn H1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật của chị Hà Trường M một túi xách bên trong có số tiền 7.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 trị giá 2.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 9.800.000 đồng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171- Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ngoài ra hành vi điều khiển xe mô tô cướp giật tài sản của bị cáo có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại và chính bản thân bị cáo. Vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và cũng để răn đe phòng ngừa chung.
. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hà Trường M.
- Đối với chị Phan Thị B khi cho Phan Tấn H1 mượn xe mô tô, chị B không biết H1 sử dụng xe vào việc phạm tội và hiện nay xe đã bán cho một người không rõ nhân thân, nên không xử lý là có cơ sở.
- Đối với bà Lê Thị Thu H khi được H1 cho điện thoại, bà H không biết tài sản do H1 phạm tội mà có nên không xử lý là phù hợp.
- Đối với chiếc giỏ xách bên trong có thẻ căn cước công dân và thẻ ATM mang tên Hà Trường M, Công an thị trấn Trảng Bom đã truy tìm nhưng không thấy, do tài sản không có giá trị lớn nên chị M không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
- Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị M số tiền 1.000.000 đồng, nên cần buộc Phan Tấn H1 phải tiếp tục bồi thường cho chị M số tiền 6.000.000 đồng.
. Quá trình khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ban hành các quyết định tố tụng, lấy lời khai, hỏi cung bị can và truy tố đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát thì thấy phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các Điều 584, Điều 586 và Điều 589- Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo: Phan Tấn H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Tấn H1 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tình từ ngày 13/10/2019.
2. Buộc bị cáo Phan Tấn H1 bồi thường cho chị Hà Trường M số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo, bị hại; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - VKSND huyện; - Cơ quan điều tra; - Sở Tư pháp tỉnh; - TAND tỉnh; - THADS huyện; - Lưu h/s, án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Xuân Phong |