vanban.org

Bản án 48/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Anh V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng Anh V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 48/2020/HS-ST
Ngày 20-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Hoàng Anh V, sinh năm 1983 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Khu phố Đ L, thị trấn Đ Ph, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Trần Thị Kim Đ, sinh năm 1952; bị cáo có 06 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/11/2019 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh 1982; thường trú: Ấp B, xã M Th, huyện H Đ, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Đường N5, khu phố Đ A, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tô Thị G, sinh năm 1957; thường trú: Ấp T Đ, xã Đ 61, huyện Tr B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng Anh V có quen biết với bà Nguyễn Thị Hồng Đ. Khoảng 06 giờ ngày 13/11/2019, V điều khiển xe mô tô biển số 60Z2-8626 đến phòng trọ số 07, đường N5, khu phố Đ A, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương để chở bà Đ đi uống nước và nhờ bà Đ tìm việc làm cho mình. Khi đến nơi, do cửa phòng khép hờ không khóa nên V đẩy cửa đi vào thì nhìn thấy bà Đ đang nằm ngủ bên cạnh có 02 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 và Samsung Galaxy S10. Thấy vậy V đi vào trong phòng rồi dùng tay phải lấy 02 điện thoại bỏ vào túi quần Jean. Sau đó, V điều khiển xe mô tô về phòng trọ của mình tại tổ C, khu phố M, phường Tr D, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai cất dấu để đi bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bà Đ định vị qua điện thoại Samsung J10 thì biết được điện thoại đang ở phòng trọ của V nên trình báo Công an. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tinh Bình Dương ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với V về hành vi trộm cắp tài sản.

- Vật chứng thu giữ: 01 (một) mô tô biển số 60Z2-8626, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 245/BB.ĐG ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng trị giá 800.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu bạc trị giá 7.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 7.800.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 245/BB.ĐG ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKS-DA ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Lê Hoàng Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Hoàng Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Hoàng Anh V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu bạc, bị hại Đ không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Taurus, biển số 60Z2-8626 do bị cáo Lê Hoàng Anh V sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là bà Tô Thị G, bà G khai nhận đã bán xe này cho bị cáo V nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/11/2019 tại phòng trọ số B, đường N5, khu phố Đ A, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, Lê Hoàng Anh V đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng trị giá 800.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu bạc trị giá 7.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Hồng Đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 7.800.000 đồng.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Hoàng Anh V đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có tổng giá trị 7.800.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 59/CT-VKS-DA ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Lê Hoàng Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và người lao động đồng thời bị cáo là người không biết chữ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo muốn kiếm tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu của bản thân mà bị cáo cố tình chiếm đoạt tài sản của bị hại đồng thời tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Dĩ An diễn ra hết sức tinh vi, phức tạp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 màu vàng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10 màu bạc, bị hại Đ không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Taurus, biển số 60Z2-8626 do bị cáo Lê Hoàng Anh V sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp là bà Tô Thị G, bà G khai nhận đã bán xe này cho bị cáo V nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Anh V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Taurus, biển số 60Z2-8626, số khung 062412, số máy 2062414 (xe không hoạt động, không kiểm tra bên trong)

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Hoàng Anh V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ