- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T (N), sinh năm 1988 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 48/2020/HS-ST Ngày: 09 – 7 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Trần Tuyết Trinh;
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm
2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng
6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (N), sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ 01, ấp P, xã A, huyện T,
tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết)
và bà Trần Thị Tuyết N (chết); anh chị em ruột có 02 người, bị can là người thứ
hai.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 23-8-2017 và ngày 24-12-2018, Tòa án nhân dân huyện Tịnh
Biên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 28-3-2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ 01, ấp C, xã V,
thành phố D, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (vắng mặt);
- Ông Trần Quốc H, sinh năm 1994 (vắng mặt);
- Lê Thị D, sinh năm 1984 (vắng mặt);
- Lê Văn T, sinh năm 1960 (có mặt);
- Phạm Thị M, sinh năm 1962 (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Nguyễn Văn T đã thực hiện
hành vi trộm cắp tài sản: Khoảng 12 giờ ngày 28-3-2020, Nguyễn Văn T đi cùng xe mô tô do Lê Văn T điều khiển từ huyện Tịnh Biên đến thành phố Châu Đốc tìm tài sản lấy trộm. Khi đến trước cửa nhà chị Nguyễn Thị Mỹ T (tổ 01, ấp Cây Châm, xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc) phát hiện nhà đóng cửa trước, không người trông giữ. T và T dừng xe, đột nhập vào nhà chị T bằng cách trèo qua cửa sau. T và T1 vào lấy trộm 01 tivi hiệu PANASONIC, 01cái loa hiệu KIOMIC, 01 máy nổ hiệu ROBIN, 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5, 01 bình gas hiệu TTGAS loại 12kg, 01 con heo đất, 02 cái quần Jean dài, 01 cái quần vải Kaki lửng, 01 đôi dép hiệu CLARKS, 01 tấm vải trải giường. T1 mang tài sản lấy trộm ra sau nhà , tẩu thoát thì bị anh Trần Quốc H và anh Nguyễn Văn T (hàng xóm của chị T) phát hiện, bắt quả tang Thái giao cho Công an, T lên xe mô tô bỏ trốn khỏi hiện trường.
Vật chứng thu giữ được gồm có:
- 01 tivi hiệu PANASONIC;
- 01cái loa hiệu KIOMIC;
- 01 máy nổ hiệu ROBIN;
- 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5;
- 01 bình gas hiệu TTGAS loại 12kg;
- 01 con heo đất;
- 02 cái quần Jean dài;
- 01 cái quần vải Kaki lửng;
- 01 đôi dép hiệu CLARKS;
- 01 tấm vải trải giường.
Kết luận định giá tài sản số 81/KL-ĐG ngày 28-3-2020 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc, xác định:
01 tivi hiệu PANASONIC, 01cái loa hiệu KIOMIC, 01 máy nổ hiệu
ROBIN, 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5, 01 bình gas hiệu TTGAS loại 12kg; 01 con heo đất, 02 cái quần Jean dài, 01 cái quần vải Kaki lửng, 01 đôi dép hiệu CLARKS, 01 tấm vải trải giường.
Tổng trị giá tài sản 2.515.000 đồng.
Ngày 31-3-2020, Cơ quan điều tra Công an thành phố Châu Đốc khởi tố vụ
án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài
sản”.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-CĐ ngày 04-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Châu Đốc truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng
truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xác định đã có ý định đi tìm tài
sản để lấy trộm nên khi Thuận dừng xe rủ bị cáo vào nhà chị Tiên trộm cắp tài sản
thì bị cáo đồng ý cùng thực hiện và trong lời nói sau cùng bị cáo xin xem xét giảm
nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên
quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2017 theo nội dung cáo trạng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết
pháp luật có phần hạn chế; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải” được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 02
năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Về xử lý vật chứng: đã giao trả cho bị hại nên không đề cập xem xét giải
quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập
xem xét giải quyết.
Đối với Lê Văn Thuận sau khi cùng Nguyễn Văn T phạm tội, đã bỏ trốn
khỏi địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng,
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện
kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy
triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị hại chị Nguyễn Thị Mỹ T; người làm chứng Nguyễn Văn T, Trần Quốc H, Lê Thị D vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Hành vi phạm tội
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng
nên bị cáo đã thực hiện vụ trộm cắp tài sản: Khoảng 12 giờ ngày 28-3-2020, bị cáo cùng đi xe mô tô do Lê Văn T điều khiển từ huyện Tịnh Biên đến thành phố Châu Đốc tìm tài sản lấy trộm. Khi đến trước cửa nhà chị Nguyễn Thị Mỹ T (tổ 01, ấp C, xã V, thành phố C) phát hiện nhà đóng cửa trước, không người trông giữ. Bị cáo và Thuận dừng xe, đột nhập vào nhà chị Tiên bằng cách trèo qua cửa sau và lấy trộm 01 tivi hiệu PANASONIC, 01cái loa hiệu KIOMIC, 01 máy nổ hiệu ROBIN, 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5, 01 bình gas hiệu TTGAS loại 12kg, 01 con heo đất, 02 cái quần Jean dài, 01 cái quần vải Kaki lửng, 01 đôi dép hiệu CLARKS và 01 tấm vải trải giường mang ra sau nhà để tẩu thoát thì bị anh Trần Quốc H và anh Nguyễn Văn T (hàng xóm của chị T) phát hiện, bắt quả tang giao bị cáo cho Công an, còn T lên xe mô tô bỏ trốn khỏi hiện trường.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn
điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác gồm: các biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh hiện trường ngày 28-3-2020 do Cơ quan điều tra Công an thành phố Châu Đốc lập; lời khai của bị hại, người làm chứng và kết luận định giá tài sản số 81/KL-ĐG ngày 28-3-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc cùng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ các chứng cứ trên có cơ sở xác định, khi phát hiện chị Mỹ Tiên sơ hở
trong việc quản lý tài sản và lợi dụng chủ sở hữu mất cảnh giác bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 tivi hiệu PANASONIC, 01cái loa hiệu KIOMIC, 01 máy nổ hiệu ROBIN, 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5, 01 bình gas hiệu TTGAS loại 12kg, 01 con heo đất, 02 cái quần Jean dài, 01 cái quần vải Kaki lửng, 01 đôi dép hiệu CLARKS và 01 tấm vải trải giường, theo kết luật định giá thì tổng trị giá các tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.515.000 đồng. Từ đó có cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Mỹ Tiên.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố
ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Do đó, hành vi phạm tội
của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1
Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố
bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa đối với Nguyễn Văn T là có căn cứ, đúng
pháp luật.
Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được
pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người
khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Bị cáo đang ở độ tuổi lao động vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử
dụng nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản của
người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm
đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy,
bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp để có tiền mua ma túy sử dụng. Xét,
cần có mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo
mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo thuộc thành
phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Trong giai đoạn điều tra, 01 tivi hiệu PANASONIC, 01cái loa hiệu
KIOMIC, 01 máy nổ hiệu ROBIN, 01 thùng bia hiệu SPECEAL – LAGER5, 01
bình gas hiệu TTGAS loại 12kg, 01 con heo đất, 02 cái quần Jean dài, 01 cái quần
vải Kaki lửng, 01 đôi dép hiệu CLARKS và 01 tấm vải trải giường mà bị cáo đã
chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên không đề cập xử lý lại.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi
thường nên không đề cập giải quyết.
Vấn đề khác: Đối với Lê Văn T hiện đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ
quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T (Nhí) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (Nhí) 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm
giam ngày 28 - 3 - 2020 (ngày hai mươi tám, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T (Nhí) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng
án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu
cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ
ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Ngọc |