- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2020/HS-ST Ngày: 02-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hưng
2. Ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp- Thư ký Toà án nhân dân huyện
Phú Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Bà
Bùi Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2020/TLST-HS ngày 07/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 12/5/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1978; nơi ĐKHKTT và
chỗ ở: xóm T, xã Kh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn Ch và bà Đỗ Thị T; Vợ: Đỗ Thị B, vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình; có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người chứng kiến: Anh Lương Xuân L, sinh năm 1986(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã Kh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 17/02/2020, tổ công tác của Công an huyện
Phú Bình đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Kh, huyện Phú Bình thì phát hiện bắt quả tang Lê Văn T, sinh năm 1978 trú tại: xóm T, xã Kh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra T đã tự giác lấy ra từ trong túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng giấy vở học sinh và lấy ra từ túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng giấy vở học sinh bên trong các gói nhỏ có chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác (T khai là ma túy loại Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 341/KL-KTHS ngày 25/02/2020 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Lê Văn T là chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,239gam.
Tại Cơ quan điều tra Lê Văn T khai: T là đối tượng nghiện ma túy nên
thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/02/2020, T một mình đi đến khu vực nghĩa trang liệt sỹ xã Kh, huyện Phú Bình với mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, lai lịch địa chỉ cụ thể và mua 02 gói ma túy của người đàn ông này với giá 200.000đ. T cất ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và túi áo khoác bên trái đang mặc đi đến xóm T, xã Kh, huyện Phú Bình tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an huyện Phú Bình kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai
tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSPB ngày 06/4/2020, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Phú Bình truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Phú Bình giữ nguyên bản Cáo trạng số 52/CT-VKSPB ngày 06/4/2020, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Lê Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện
kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy
hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết
định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11h15 phút ngày 17/02/2020, tại xóm T xã Kh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo T đã có hành vi tàng trữ 0,239gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-
11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSPB ngày 06/4/2020 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Phú Bình truy tố Lê Văn T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, về nhân thân, các T tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến chính sức khỏe của bị cáo, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến.Vì vậy bị cáo được hưởng T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi
xem xét các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, qua xác minh lời
khai tại phiên tòa không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quyết định tạm giam bị cáo Lê Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại
sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy
cho bị cáo tại khu vực Nghĩa trang liệt sỹ xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, do bị cáo T không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ,
tạm giam bị cáo 17/02/2020.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền
đối với bị cáo.
3.Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lê
Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
4.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa
0,229gam Heroine được hoàn lại sau giám định.
(T trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2020 giữa
Công an huyện Phú Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Buộc bi ̣ cáo Lê Văn T phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Phú Bình; - Công an huyện Phú Bình; - THADS huyện Phú Bình; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |