vanban.org

Bản án 48/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hu nh Văn Q tên gọi khác là K) phạm tội “trộm c p tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hu nh Văn Q tên gọi khác là K) 16 mư i sáu) tháng t . Th i gian chấp hành hình phạt t tính từ ngày 24/3/2020. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 của Bộ luật Dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hu nh Văn Q tên gọi khác là K) phạm tội “trộm c p tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2020/HS-ST
Ngày: 19-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hư ng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hu nh Văn Q tên gọi khác là K), sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp Ấp B3, xã P, thị xã B2, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hu nh Văn P1, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị U, không r năm sinh; bị cáo có vợ tên Hu nh Thị L1, sinh năm 1980, bị cáo có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Ngày 11/7/2012, bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng 16 ngày t về tội trộm c p tài sản theo bản án số 127/2012/HSST; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 10/01/2006, bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát xử phạt 14 tháng t về tội trộm c p tài sản và 26 tháng t về tội hu hoại tài sản, t ng hợp hình phạt là 03 năm 04 tháng t theo bản án số 04/2006/HSST. Ngày 21/9/2009, bị Toà án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một xử phạt 15 tháng t về tội trộm c p tài sản theo bản án số 151/2009/HSST. Bị cáo bị tạm gi , tạm giam từ ngày 24/3/2020 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

+ Ông Lành Văn D, sinh năm 1999. Hộ khẩu thư ng trú: Thôn N, xã Y1, huyện E, tỉnh Đ kl k. Xin v ng mặt.

+ Ông Ngô Văn T, sinh năm 1997. Hộ khẩu thư ng trú: Thôn T1, xã E1, huyện K, tỉnh Đ kl k. Xin v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hu nh Văn Q và Trần Văn T1, c ng thư ng trú tại xã P, thị xã B2, tỉnh Bình Dương nên quen biết và chơi với nhau.

Khoảng 01 gi 00 phút ngày 23/3/2020, Trần Văn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Super Cup 50, không r biển số chở Hu nh Văn Q đi từ xã P, thị xã B2 đến ấp B, xã T2, huyện Dầu Tiếng tìm tài sản để trộm c p.

Khi đến dãy nhà trọ “X”, thuộc khu vực ấp B, xã T2, huyện Dầu Tiếng, T1 và Q phát hiện phòng trọ VIP 50, dãy thứ năm của Ngô Văn T, sinh năm 1997, thư ng trú tại thôn T1, xã E1, huyện K, tỉnh Đ kl k và Lành Văn D, sinh năm 1999, xã Y1, huyện E, tỉnh Đ kl k, không khóa cửa, T1 dừng xe cách phòng trọ khoảng 20m, đứng bên ngoài cảnh giới, Q lén lút đi vào bên trong phòng trọ tìm tài sản để trộm c p. Lúc này, trong phòng trọ, Lành Văn D và ngư i bạn tên Lưu Văn Chung, sinh năm 1991, thư ng trú tại , xã Y1, huyện E, tỉnh Đ kl k đang ngủ trên giư ng, T ngủ trên gác xép. Khi vào trong phòng trọ, Q lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 8 lite của D để ở cuối giư ng, đồng th i đẩy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu sơn: Xanh – đen, biển số 47M1-771.50, trên khóa c m sẵn chìa khóa của T ra ngoài. Q đưa tài sản vừa trộm được điện thoại và xe máy) cho T1. T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter vừa trộm được, Q điều khiển xe mô tô Super cup 50, cả hai về nhà của T1. Do Q điều khiển xe mô tô Cup 50 nên đi sau T1, khi tới nhà T1, Q thấy nhà T1 khóa cửa, nên Q để xe Super Cup 50 của T1 lại trước nhà T1 rồi đi bộ về nhà ngủ.

Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khám xét nơi ở của Trần Văn 1T tại ấp A1, xã P, thị xã B2, tỉnh Bình Dương, phát hiện và thu gi tại nơi ở của T1 03 biển số xe mô tô gồm biển số 47M1-771.50 là biển số xe mô tô bị trộm c p của bị hại Ngô Văn T; biển số 61N6-7766 và biển số 93P2-417.26 và 06 ba ga các loại của xe mô tô. Khám xét nơi ở của Hu nh Văn Q, ở ấp B3, xã P, thị xã B2, tỉnh Bình Dương, thu gi 01 áo khoác bằng vải màu tím hiệu ADIDAS. Hu nh Văn Q giao nộp 01 quần jeans lửng màu xanh, ở lưng quần có may miếng da hình ch nhật màu vàng, trên miếng da có ch JEANS; 01 đôi dép lào màu vàng; 01 áo thun ng n tay màu tr ng.

Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 27/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dầu Tiếng xác định:

+ 01 một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh – đen, biển số 47M1-671.50, số máy G3D4E861142, số khung 1010KY094712, đăng ký lần đầu ngày 24/01/2019 xe đã qua sử dụng) có giá vào ngày 23/3/2020 là 29.000.000 đồng;

+ 01 một) điện thoại di động Xiaomi 8 Lite màu đen đã qua sử dụng) mua tháng 01/2019 có giá vào ngày 23/3/2020 là 1.800.000 đồng.

T ng tài sản mà Trần Văn T1 và Hu nh Văn Q trộm c p của ông Ngô Văn T và Lành Văn D có giá là 30.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKSDT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố bị cáo Hu nh Văn Q về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hu nh Văn Q từ 16 tháng đến 18 tháng t ;

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.

Bị hại Ngô Minh T yêu cầu Hu nh Văn Q và Trần Văn T1 bồi thư ng giá trị xe mô tô bị mất với số tiền 40.000.000 đồng, bị hại Lành Văn D, yêu cầu bồi thư ng giá trị điện thoại bị mất là 4.000.000 đồng. Bị cáo Q đồng ý bồi thư ng một nửa số tiền mà T và D yêu cầu. Đối với yêu cầu bồi thư ng dân sự của bị hại T và D, do chưa b t được Trần Văn T1, nên đề nghị buộc Q bồi thư ng giá trị thiệt hại tài sản theo kết luận định giá tài sản với t ng số tiền là 30.800.000 đồng, trong đó bồi thư ng cho Ngô Minh T số tiền 29.000.000 đồng; bồi thư ng cho Lành Văn D số tiền 1.800.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

Sau khi xảy ra vụ án, Trần Văn T1 đã đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh b t bị can để tạm giam, ra Quyết định truy nã đối với Trần Văn T1 để phục vụ công tác điều tra. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa b t được T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tạm đình điều tra bị can đối với T1, khi nào b t được sẽ xử lý sau.

Đối với biển số 47M1-771.50, thu gi tại nhà Trần Văn T1, xác định biển số xe này là của bị hại Ngô Văn T, đề nghị trả lại cho bị hại T.

Đối với biển số 93P2-417.26, quá trình điều tra xác định là của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu sơn cam đen tr ng, số máy KC 26E1226879, số khung RLHKC2605GY380435 do bà Mai Thị Y, sinh năm 2000, thư ng trú t 11, ấp Đ, xã T3, huyện H, Bình Phước, tạm trú tại Ô 110, B29, khu dân cư 5B, đư ng N5, khu phố B1, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở h u. Quá trình xác minh, bà Mai Thị Y khai nhận xe mô tô này bị mất trộm vào khoảng 02 gi ngày 24/5/2020 ở địa chỉ Ô 110, B29, khu dân cư 5B, đư ng N5, khu phố B1, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Nhận thấy, vụ mất trộm tài sản của bà Mai Thị Y xảy ra trên địa bàn huyện B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã ban hành công văn thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng. Đối với biển số 93P2-417.26, xét thấy, biển số này không liên quan đến vụ án nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng để làm căn cứ xử lý theo quy định.

Đối với biển số 61N6-7766, quá trình điều tra xác định biển số này được cấp cho chủ xe Lê Minh H1, địa chỉ D2, Ô 52, đư ng G, phư ng F, Thủ Dầu Một. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên không có ngư i tên Lê Minh H1 cư trú tại địa chỉ trên. Xét thấy, biển số này không liên quan đến vụ án nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng tiếp tục tạm gi để điều tra, xác minh.

Đối với 06 ba ga các loại của xe mô tô tạm gi khi khám xét nhà Trần Văn T1 do chưa b t được bị can T1 nên không có căn cứ xử lý đối với 06 ba ga này. Xét thấy, 06 ba ga này không liên quan đến vụ án nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng tiếp tục tạm gi để điều tra, xác minh.

Đối với 01 quần jeans lửng màu xanh, ở lưng quần có may miếng da hình ch nhật màu vàng, trên miếng da có ch JEANS; 01 đôi dép lào màu vàng; 01 áo thun ng n tay màu tr ng; 01 áo khoác bằng vải, màu tím hiệu ADIDAS, thu gi của Hu nh Văn Q, xác định đây là đồ d ng cá nhân của Q, bị can Q không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tuyên trả cho Q.

Đối với 01 USB màu tr ng, nhãn hiệu Toshiba, loại 16GB có ch a d liệu Camera gồm 02 đoạn video) được trích xuất từ hệ thống Camera an ninh của Công an xã P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng sau khi trưng cầu giám định trích xuất hình ảnh, d liệu lưu trong USB, đã giao trả lại cho Công an xã P nên không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hu nh Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra. L i nói sau c ng: Bị cáo không nói l i nói sau c ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa v ng mặt bị hại Ngô Văn T và Lành Văn D. Xét thấy, ông T và ông D đã có l i khai trong hồ sơ vụ án, có đơn yêu cầu xét xử v ng mặt, sự v ng mặt của ông T và ông D không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng mặt ông T và ông D theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

L i khai của bị cáo Hu nh Văn Q tại phiên tòa ph hợp với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các l i khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, ph hợp với l i khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ nh ng chứng cứ nêu trên có căn cứ kết luận: Khoảng 01 gi 00 phút ngày 23/3/2020, tại phòng trọ VIP 50, dãy thứ năm thuộc nhà trọ “X”, ở khu vực ấp B, xã T2, huyện Dầu Tiếng, Trần Văn T1 và Hu nh Văn Q đã trộm c p một xe mô tô của Ngô Văn T và một điện thoại di động của Lành Văn D.

Bị cáo là ngư i có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của ngư i khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc trông coi tài sản, lén lút trộm c p tài sản của bị hại mục đích là để bán lấy tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bị cáo. Hậu quả bị cáo đã c ng Trần Văn T1 trộm c p của bị hại một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exiter, màu xanh – đen, biển số 47M1-671.50, số máy G3D4E861142, số khung 1010KY094712 của Ngô Văn T trị giá 29.000.000 đồng và một điện thoại di động Xiaomi 8 Lite màu đen của Lành Văn D trị giá 1.800.000 đồng. T ng giá trị tài sản bị trộm c p là 30.800.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng xâm phạm đến quyền tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 44/CT-VKSDT-HS ngày 06/7/2020 cũng như phần luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố bị cáo Hu nh Văn Q về tội “Trộm c p tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó, cả bị cáo và Trần Văn T1 đều có vai trò thực hành tích cực, c ng tham gia trộm c p tài sản rồi giao tài sản cho T1 đi tiêu thụ.

Bị cáo Q có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đang có con nhỏ. Hội đồng xét xử cân nh c giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo đã từng bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng 16 ngày t về tội trộm c p tài sản theo bản án số 127/2012/HSST ngày 11/7/2012, chưa thực hiện xong ngh a vụ nộp các khoản tiền theo bản án đã tuyên thuộc trư ng hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng, bị cáo có nhân thân xấu, tình tiết tăng nặng tái phạm nên cần thiết phải xử phạt hình phạt t giam mới đủ sức răn đe đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Minh T yêu cầu Hu nh Văn Q và Trần Văn T1 bồi thư ng giá trị xe mô tô bị mất với số tiền 40.000.000 đồng, bị hại Lành Văn D, yêu cầu bồi thư ng giá trị điện thoại bị mất là 4.000.000 đồng. Bị cáo Q đồng ý bồi thư ng một nửa số tiền mà T và D yêu cầu. Đối với yêu cầu bồi thư ng dân sự của bị hại T và D, do chưa b t được Trần Văn T1 nên chỉ có cơ sở buộc Q bồi thư ng cho bị hại giá trị thiệt hại tài sản theo kết luận định giá tài sản với t ng số tiền là 30.800.000 đồng, trong đó bồi thư ng cho Ngô Minh T số tiền 29.000.000 đồng; bồi thư ng cho Lành Văn D số tiền 1.800.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Sau khi xảy ra vụ án, Trần Văn T1 đã đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh b t bị can để tạm giam, ra Quyết định truy nã đối với Trần Văn T1 để phục vụ công tác điều tra. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa b t được T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tạm đình điều tra bị can đối với T1, khi nào b t được sẽ xử lý sau là ph hợp.

Đối với biển số 47M1-771.50, thu gi tại nhà Trần Văn T1, xác định biển số xe này là của bị hại Ngô Văn T, nên trả lại cho bị hại T là ph hợp.

Đối với biển số 93P2-417.26, quá trình điều tra xác định là của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu sơn cam đen tr ng, số máy KC 26E1226879, số khung RLHKC2605GY380435 do bà Mai Thị Y, sinh năm 2000, thư ng trú t 11, ấp Đ, xã T3, huyện H, Bình Phước, tạm trú tại Ô 110, B29, khu dân cư 5B, đư ng N5, khu phố B1, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở h u. Quá trình xác minh, bà Mai Thị Y khai nhận xe mô tô này bị mất trộm vào khoảng 02 gi ngày 24/5/2020 ở địa chỉ Ô 110, B29, khu dân cư 5B, đư ng N5, khu phố B1, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Nhận thấy, vụ mất trộm tài sản của bà Mai Thị Y xảy ra trên địa bàn huyện B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã ban hành công văn thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng. Biển số 93P2-417.26 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng để làm căn cứ xử lý theo quy định là ph hợp.

Đối với biển số 61N6-7766, quá trình điều tra xác định biển số này được cấp cho chủ xe Lê Minh H1, địa chỉ D2, Ô 52, đư ng G, phư ng F, Thủ Dầu Một. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên không có ngư i tên Lê Minh H1 cư trú tại địa chỉ trên. Xét thấy, biển số này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng tiếp tục tạm gi để điều tra, xác minh là ph hợp.

Đối với 06 ba ga các loại của xe mô tô tạm gi khi khám xét nhà Trần Văn T1 do chưa b t được bị can T1 nên không có căn cứ xử lý đối với 06 ba ga này. Xét thấy, 06 ba ga này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng tiếp tục tạm gi để điều tra, xác minh là ph hợp.

Đối với 01 quần jeans lửng màu xanh, ở lưng quần có may miếng da hình ch nhật màu vàng, trên miếng da có ch JEANS; 01 đôi dép lào màu vàng; 01 áo thun ng n tay màu tr ng; 01 áo khoác bằng vải, màu tím hiệu ADIDAS, thu gi của Hu nh Văn Q, xác định đây là đồ d ng cá nhân của Q, bị can Q không sử dụng vào việc phạm tội nên trả cho Q.

Đối với 01 USB màu tr ng, nhãn hiệu Toshiba, loại 16GB có ch a d liệu Camera gồm 02 đoạn video) được trích xuất từ hệ thống Camera an ninh của Công an xã P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng sau khi trưng cầu giám định trích xuất hình ảnh, d liệu lưu trong USB, đã giao trả lại cho Công an xã P nên không xem xét xử lý.

Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ ph hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hu nh Văn Q tên gọi khác là K) phạm tội “trộm c p tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hu nh Văn Q tên gọi khác là K) 16 mư i sáu) tháng t . Th i gian chấp hành hình phạt t tính từ ngày 24/3/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 của Bộ luật Dân sự:

Buộc Hu nh Văn Q phải bồi thư ng cho bị hại Lành Văn D số tiền 1.800.000 đồng một triệu tám trăm ngàn đồng).

Buộc Hu nh Văn Q phải bồi thư ng cho bị hại Ngô Văn T số tiền 29.000.000 đồng hai mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày ngư i được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ngư i phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và th i gian chưa thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Ngô Văn T biển số 47M1-771.50.

Trả lại cho Hu nh Văn Q 01 một) quần jeans lửng màu xanh, ở lưng quần có may miếng da hình ch nhật màu vàng, trên miếng da có ch JEANS; 01 một) đôi dép lào màu vàng; 01 một) áo thun ng n tay màu tr ng; 01 một) áo khoác bằng vải, màu tím hiệu ADIDAS.

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hu nh Văn Q phải chịu số tiền 200.000 đồng hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hu nh Văn Q phải chịu số tiền 1.540.000 đồng một triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 19/8/2020).

Bị hại v ng mặt được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ