vanban.org

Bản án 48/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Danh C - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48 /2020/HS-ST
Ngày: 22/7/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường;

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

Ông Lê Văn Hoan"

Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa:BàĐỗ Thị Thuý – Thư ký Tòa án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Ba Vì , TP. Hà Nội tham gia phiên tòa:Ông Lê Văn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Vì, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 55/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đốivới bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN DANH C – Sinh 1985; Nơi cư trú: thôn CQ, xã CM, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh T1 ( đã chết )và bà Phương Thị H ( đã chết ); Vợ; Lương Thị T3, sinh 1987; con:có 2 con nhỏ sinh năm 2012, lớn sinh năm 2016; Tiền sự: ngày 03/10/2019 Công an thị xã Sơn Tây xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Danh C 1.500.000đ về hành vi “ Trộm cắp tài sản”; Tiền án: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị"hại: chị Đỗ Thị T – sinh 1988

HKTT và chỗ ở hiện nay : Thôn VL, xã VL, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội.

Anh Nguyễn Văn Hưng – sinh năm 1981

HKTT và chỗ ở hiện nay : Thôn Q, xã ĐQ, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội.

-"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan:"

- Anh Đỗ Đức T3 – sinh 1986

HKTT và chỗ ở hiện nay : thôn Đ, thị trấn TĐ, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội.

"("Bị"hại,"người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan"vắng"mặt"tại"phiên"toà")"

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 00 ngày 29/02/2020, Nguyễn Danh C đi một mình từ nhà lên xã VL – Ba Vì –Hà Nội. Khi đang đi trên đuờng liên thôn VL – VL, Cuờng quan sát thấy một đám cưới trong ngõ, C thấy có nhiều xe máy của người đến đám cưới để ở sân nhà chị Nguyễn Thị B không có ai trông giữ. C đi vào trong sân nhà chị B đứng quan sát và phát hiện chiếc xe máy nhãn hịêu Yamha, kiểu dáng Sirius màu trắng đen, BKS: 30M1 – 6423 là xe của chị Đỗ Thị T không khoá cổ, khoá càng. Sẵn trên nguời có chiếc chìa khoá xe máy nhãn hịêu Honda, C cắm vào ổ khoá xe máy của chị T rồi vặn mở khoá điện của xe. Sau khi mở được khoá điện của xe, C liền quay đầu xe ra huớng ngõ rồi lên xe nổ máy đìêu khiển đi về xã CM – Ba Vì – Hà Nội. Khi về tới khu vực mương thuộc địa phận xóm T – VP - CM – Ba Vì, C dừng xe tháo bỏ gương chiếu hậu, một chiếc mũ bảo hiểm nữ, loại mũ nửa đầu có kính và một chiếc mũ vải màu hồng đựơc treo sẵn ở móc treo hàng ở giữa xe xuống mương nuớc. Sau đó, C đìêu khiển xe máy đến nhà anh Đỗ Đức T3 để bán. Tại đây, Anh T3 hỏi về nguồn gốc và giấy tờ của chiếc xe máy. C nói dối anh T3 là xe của gia đình và cam đoan không phải xe trộm cắp. Anh T3 tin tưởng, đồng ý mua và thoả thuận mua chiếc xe máy với giá 1.500.000đ ( một trịêu năm trăm nghìn đồng). Anh T3 bảo vợ là Nguyễn Thị Đ đang làm ngoài ruộng gần nhà vào viết giấy mưa, bán xe với C. Để đảm bảo là xe của C mang đến bán không phải xe trộm cắp. Anh T3 yêu cầu C trình chứng minh thư nhân dân nhưng C không mang theo. Anh T3 yêu cầu C cầm giấy bán xe để chụp ảnh chân dung của C. Sau đó, T3 đưa cho C số tiền 1.500.000đ. C nhận tiền và ra về. Toàn bộ số tiền này, C đã tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 ngày 09/3/2020, Nguyễn Danh C mang theo 01 chiếc tô vít đã rút bỏ cán dài khoảng 15 cm đầu hàn một đoạn sắt nằm ngang dài khoảng 10 cm ( hình chữ T, dạng vam phá khoá) đi bộ một từ nhà đến khu vực xóm Đình – CM – ba Vì tìm xe máy có sơ hở để trộm cắp. C đi đến cửa hàng tạp hoá của anh Lê Quý Ph thấy có 3-4 chiếc xe máy dựng tại lề đường sát với cửa hàng tạp hoá, không khoá cổ, khoá càng, không có ai trông giữ. C tiến lại gần chiếc xe máy nhãn hịêu SHURA, kiểu dáng Future, màu đỏ, BKS: 33P1 – 5431 của anh Nguyễn Văn H để ở đó. C liền lấy chiếc tô vít mang theo đút vào ổ khoá điện vặn theo chiều kim đồng hồ và mở được khoá điện của chiếc xe máy. Sau đó, C liền quay đầu xe ra hướng ra đình CQ – CM lên xe và nổ máy điều khiển đi ra QL 32 rồi đi thẳng lên cầu Trung Hà và đi đến trước cửa hàng mua phế liệu của chị Nguyễn Thị V (HKTT: Xã DQ – tam Nông – Phú Thọ) và đặt vấn đề muốn bán chiếc xe máy vừa trộm được. Nhưng do C nói xe không có giấy tờ nên chị V không mua. Lúc này, có một nguời đàn ông khoảng 40 tuổi ( không rõ tên tuổi, địa chỉ) đi đến hỏi mua chiếc xe máy của C với giá 550.000đ ( Năm trăm nghìn đồng). C đồng ý bán. Sau đó, C bắt xe khách về xã CM – Ba Vì. Toàn bộ số tiền này, C đã tiêu sài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số : 25/2020/KL-ĐGTS ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận tổng giá trị tài sản chiếc xe máy BKS 30M 1– 6423 là 7.000.000đ, một mũ bảo hiểm trị giá 100.00đ, một mũ luỡi trai trị giá 10.000đ. Tổng giá trị tài sản là 7.110.000đ ( Bảy trịêu, một trăm mười nghìn đồng).

Tại bản kể luận định giá tài sản sô: 33/2020/KL-ĐGTS ngày 16 tháng 4 năm 2020của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận tổng giá trị tài sản chiếc xe máy BKS 33P - 5431 là 1.400.000đ( Một trịêu bốn trăm nghìn đồng).

Đỗi với Đỗ Đức T ( SN: 1986, HKTT: thôn ĐH - TĐ – Ba Vì –Hà Nội) đã mua lại chiếc xe máy của Nguyễn Danh C trộm cắp, nhưng anh T không biết chiếc xe trên là do C trộm cắp mà có. Anh T3 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho cơ quan đìêu tra phục vụ công tác đìêu tra. Cơ quan đìêu tra đã nhắc nhở, giáo dục đối với anh T nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với nguời đàn ông khoảng 40 tuổi đã mua lại chiếc xe máy của Nguyễn Danh C trộm cắp đụơc ngày 09/3/2020 tại xã CM – Ba Vì – Hà Nội. Do C không biết tên, tuổi, địa chỉ của nguời này nên cơ quan đìêu tra không có căn cứ để xác minh, trịêu tập và làm rõ nội dung trên. Nên cơ quan đìều tra không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về dân sự:

Chị Đỗ Thị T đã được cơ quan đìêu tra trao trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng đen, BKS: 30M1 -6423, có khung số : 398744, số máy: 398791 còn nguyên vẹn như truớc khi bị Nguyễn Danh C trộm cắp. Chị T xác định chiếc gương chiếu hậu bên trái của xe máy, mũ bảo hiểm nữ và chiếc mũ vải màu hồng được treo ở xe máy của chị T bị C trộm cắp, C đã vứt bỏ có giá trị nhỏ nên chị T không còn yêu cầu đề nghị bồi thuờng về mặt dân sự.

Anh Nguyễn Văn H xác định chiếc xe mô tô nhãn hịêu SHURA, kiểu dáng Future màu đỏ, BKS: 33P -5431 bị anh Nguyễn Danh C trộm cắp ngày 09/3/2020 tại CM – Ba Vì – Hà Nội là loại xe Trung Quốc có giá trị nhỏ nên anh Hưng không yêu cầu bồi thường.

Anh Đỗ Đức T3 không yêu cầu đề nghị Nguyễn Danh C phải hoàn trả lại số tiền 1.500.000 đồng mà anh Thuỷ đã mua chiếc xe máy nhãn hịêu Sirius màu trắng – đen, BKS: 30M1 – 6423 của C ngày 29/2/2020.

Về vật chứng vụ án:

Đối với đĩa DVD chứa đọan video thu giữ tại nhà anh Phùng Công H ( Sn 1978, trú tại : Tây Đằng – Ba Vì – Hà Nội) có chứa hình ảnh C sau khi lấy đựơc một chiếc xe máy đã đi qua nhà anh H, Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ phục vụ công tác xét xử.

Đối với chiếc chìa khoá xe máy nhãn hiệu honda là công cụ Nguyễn Danh C đã sử dụng để mở khoá chiếc xe trộm cắp của chị Đỗ Thị T ngày 29/2/2020. C đã để lại theo chiếc xe máy khi bán lại cho anh Đỗ Đức T3. Anh T3 giao nộp cho cơ quan đìêu tra kèm theo chiếc xe máy trên. Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng, yêu cầu CQĐT chuyển đến CCTHADS huyện Ba Vì để xử lý theo đúng quy định của pháp lụât.

Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 01/7/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Danh C phạm tội ”Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173BLHS 2015; Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh C từ15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc chìa khoá xe máy nhãn hiệu Honda.Buộc bị cáo Nguyễn Danh C phải nộp xung công quỹ nhà nước số tiền 2.050.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ba Vì và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đều được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa hôm nay có đủ có sở để xác định: bị cáo Nguyễn Danh C đã 2 lần trộm cắp tài sản cụ thể; lần thứ 1: ngày 29/02/2020, Nguyễn Danh C đã trộm cắp chiếc xe máy nhãn hịêu Yamha, kiểu dáng Sirius màu trắng đen, BKS: 30M1 – 6423 là xe của chị Đỗ Thị T có trị giá là 7.000.000đ và một mũ bảo hiểm trị giá 100.00đ, một mũ luỡi trai trị giá 10.000đ. Tổng giá trị tài sản là 7.110.000đ ( Bảy trịêu, một trăm mười nghìn đồng).Lần thứ 2: ngày 09/3/2020 Nguyễn Danh C đã trộm cắp chiếc xe máy nhãn hịêu SHURA, kiểu dáng Future, màu đỏ, BKS: 33P1 – 5431 của anh Nguyễn Văn H có trị giálà 1.400.000đ( Một trịêu bốn trăm nghìn đồng). Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1Điều 173BLHS 2015.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền sự ngày 03/10/ 2019 Công an thị xã Sơn Tây xử phạt hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn xoá nhưng đến 29/02/2020, Nguyễn Danh C lại phạm tội trộm cắp có trị giá là 7.000.000đ; ngày 09/3/2020 Nguyễn Danh C phạm tội trộm cắpcó trị giálà 1.400.000đ. Do vậy bị cáo bị áp dụng trường hợp phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 điều 52 BLHS.

Qua xem xét đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy bị cáo có nhân thân xấu có 1 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, và là con nghiện ma tuý bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về dân sự:

Chị Đỗ Thị T đã nhận lại chiếc xe nhãn hiệu Sirius màu trắng đen, BKS: 30M1 -6423. Chị T xác định chiếc gương chiếu hậu bên trái của xe máy, mũ bảo hiểm nữ và chiếc mũ vải màu hồng được treo ở xe máy của chị T bị Cường trộm cắp, Cường đã vứt bỏ có giá trị nhỏ nên chị T không còn yêu cầu đề nghị bồi thường về mặt dân sự.Do vậy, HĐXX không xem xét.

Anh Nguyễn Văn H xác định chiếc xe mô tô nhãn hịêu SHURA, kiểu dáng Future màu đỏ, BKS: 33P -5431 bị anh Nguyễn Danh C trộm cắp là loại xe Trung Quốc có giá trị nhỏ nên anh Hưng không yêu cầu bồi thường.Do vậy, HĐXX không xem xét.

Anh Đỗ Đức T3 không yêu cầu đề nghị Nguyễn Danh C phải hoàn trả lại số tiền 1.500.000 đồng mà anh T3 đã mua chiếc xe máy nhãn hịêu Sirius màu trắng – đen, BKS: 30M1 – 6423. Do vậy, HĐXX không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

Đối với chiếc chìa khoá xe máy nhãn hiệu Honda là công cụ Nguyễn Danh C đã sử dụng để mở khoá chiếc xe trộm cắp. Xét thấy, đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.

Số tiền 2.050.000đ bị cáo C bán được tài sản đã tiêu sài hết, bị hại và người liên quan không yêu cầu bồi thường. Xét thấy, cần buộc bị cáo phải nộp số tiền trên để xung công quỹ nhà nước.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 điều 173 BLHS quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chưa có thu nhập ổn định, do vậy HĐXX miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì"các"lẽ"trên"

QUYẾT ĐỊNH:"

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểms khoản 1Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015; Điều 135 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14về án phí lệ phí Tòa án.

2."Xử:""Tuyên"bố"bị"cáo""Nguyễn"Danh"C"phạm"tội"“"Trộm"cắp"tài"sản”."

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn" Danh" C" 15(" Mười" lăm)

tháng tù, kể ngày 27/4/2020.

"3."Hình"phạt"bổ"sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. """"""""""4.Về"vật"chứng"vụ"án:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc chìa khoá xe máy nhãn hiệu Honda là công cụ Nguyễn Danh C đã sử dụng để mở khoá chiếc xe trộm cắp. Buộc bị cáo Nguyễn Danh C phải nộp xung công quỹ nhà nước số tiền 2.050.000đ ( Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng ) """""""5.Án"phí: Bị cáo Nguyễn Danh C phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm. """""6."Quyền"kháng"cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

“Trường"hợp"bản"án,"quyết"định"được"thi"hành"theo"quy"định"tại"Điều"2" Luật"Thi"hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành" án" dân" sự" có" quyền" thỏa" thuận" thi" hành" án," quyền" yêu" cầu" thi" hành" án," tự" nguyện"thi"hành"án"hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"điều"6," 7"và"9"Luật"thi"hành"án"dân"sự,"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy" định"tại"điều"30"Luật"thi"hành"án"dân"sự”.

Cỡ chữ