vanban.org

Bản án 48/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2020/HS-PT
Ngày: 19/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài

Các Thẩm phán: Ông Trần Khánh Hồng

Ông Đặng Minh Tuân

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/HSPT ngày 04 tháng 02 năm 2020 do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 660/2019/HSST ngày 23/12/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Dương Văn V, (tên gọi khác: Không); sinh ngày 05/11/1963; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 13, phường TL, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1920; có vợ Nhâm Thị T1, sinh năm 1962; có 03 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại.Có mặt.

Người bị hại kháng cáo: Ông Trần Văn V1, sinh năm 1959,

Địa chỉ: Tổ 13, phường TL, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Trần Văn V1 và Dương Văn V là hàng xóm của nhau, giữa hai gia đình có tranh chấp về ranh giới đất. Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 19/7/2019, V cùng vợ là bà Nhâm Thị T đến khu vực đất đang có tranh chấp gặp ông V1 để xác định lại mốc giới đất. Khi đi, V cầm theo 01 chiếc cuốc, mục đích để cuốc đất phân định mốc giới. Đến nơi, giữa bà T1 và ông V1 xảy ra cãi chửi nhau. V thấy ông V1 chửi vợ mình nên cầm cuốc bằng hai tay đẩy phần bàn cuốc về phía mặt ông V1 nhưng ông V1 dùng tay đỡ lại. Ông V1 lùi lại phía sau cúi xuống nhặt đá thì V cầm cuốc vụt theo chiều ngang từ phải sang trái trúng vào thắt lưng của ông V1 làm ông V1 ngã xuống đất. Anh Vũ Thanh B1 vào căn ngăn thì V dừng lại, cầm cuốc đi về nhà và bảo con gái là Dương Thị Lan A ra đưa ông V1 đến Bệnh viện A Thái Nguyên điều trị. Hậu quả: Ông Trần Văn V1 bị 01 vết thương xây sát vùng cột sống thắt lưng dài 5,5cm, rộng 0,4cm. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 451/TgT ngày 03/9/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 3% (ba phần trăm).

Ngày 21/7/2019, ông Trần Văn V1 có đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Dương Văn V.

Quá trình giải quyết bị cáo Dương Văn V đã bồi thường cho ông Trần Văn V1 số tiền 6.000.000 đồng. Ông V1 yêu cầu V bồi thường 20.000.000đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 660/2019/HSST ngày 23/12/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Văn V 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo,thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 5 Điều 275, Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự . Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại tổng cộng 14.668.975 đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 6.000.000đồng, còn phải bồi thường tiếp 8.668.975 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết đi ̣nh về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/12/2019 bị hại ông Trần Văn V1 kháng cáo với nội dung tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Phần kết luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích,đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác đi ̣nh cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo, 18 tháng thử thách về tội “Cốý gây thương tích” là có căn cứ. Về trách nhiệm dân sự: cấp sơ thẩm đã tính đúng, tính đủ theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 660/2019/HSST ngày 23/12/2019 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Bị cáo không tranh luận gì. Bị hại đề nghị xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng bồi thường cho bị hại. Lời nói sau cùng bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị hại Trần Văn V1 làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

.Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã mô tả. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xácđịnh: Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 06 giờ 50 phút ngày 19/7/2019 tại tổ 13, phường TL, thành phố TN, Dương Văn V có hành vi dùng 01 chiếc cuốc cán bằng gỗ dài khoảng 1,3cm, lưỡi bằng sắt kích thước 25cm x 15cm đánh vào vùng thắt lưng của ông Trần Văn V1 gây chấn thương cột sống thắt lưng, giám định kết luận tổn hại sức khỏe của ông Trần Văn V1 là 3%. Ông V1 yêu cầu khởi tố vụán.

Với hành vi nêu trên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Dương Văn Vỹ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của người bị hại Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét xử bị cáo 09 tháng tù cho hưởngán treo. Trước khi xét xử phúc thẩm ngày 24/02/2020 bị cáo đã nộp số tiền 8.668.975 đồng để khắc phục hậu quả cho người bị hại và ngày 06/02/2020 đa nộp 633.448̃ đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên,điều đó thể hiện bị cáo thật sự ăn năn hối lỗi về hành vi của mình.Tại phiên tòa hôm nay không phát sinh tình tiết nào khác để xem xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù của người bị hại, vì vậy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét kháng cáo của người bị hại về phần đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại: Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã căn cứ vào thương tích thực tế của bị hại, căn cứ vào hóa đơn chứng từ hợp lệ và chi phí hợp lý của bị hại để buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại gồm: Tiền thuốc + viện phí 4.218.975 đồng, tiền công mất thu nhập của người bị hại 1.800.000 đồng, tiền công mất thu nhập của người phục vụ 1.200.000đồng, tiền tổn thất tinh thần 7.450.000 đồng. Tổng cộng 14.668.975 đồng là phù hợp, nên không chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường của người bị hại.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của người bị hại Hội đồng xét xử không chấp nhận.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

.Kháng cáo của người bị hại không được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nh về án phí Tòa án, người bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Trần Văn V1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 660/2019/HSST ngày 23/12/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

* Tuyên bố bị cáo Dương Văn V phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Văn V 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TL, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thi hành án 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 5 Điều 275, Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Văn V1 các khoản viện phí, chi phí khác tổng cộng 14.668.975 đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 6.000.000đồng (sáu triệu đồng), còn phải bồi thường tiếp 8.668.975 đồng (tám triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng).

Ghi nhận ngày 24/02/2020 bị cáo đã nộp số tiền 8.668.975đồng (tám triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng) để bồi thường cho người bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (Biên lai thu tiền số 0000035).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nhvề án phí Tòa án. Buộc ông Trần Văn V1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm sung quỹ nhà nước.

Ghi nhận ngày 06/02/2020 bị cáo Dương Văn V đa nộp số 200.000đồng̃ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 433.448 đồng (bốn trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm bốn mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (Biên lai thu tiền số 0000009).

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luâ ̣t kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ