vanban.org

Bản án 48/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/11/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.

án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Áp dụng: Điều 55 Luật Đất đai; Điều 1 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Bùi Xuân C, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: tỉnh Thanh Hóa"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP Quy định về thu tiền sử dụng đất; Thông tư số 76/2014/TT-BTC Hướng dẫn một số điều của Nghị đị…; Điều 1 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2020/HC-PT
Ngày: 26/11/2020
“V/v Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết
định hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long

Bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham dự

phiên tòa: Ông Lê Phước Thạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà

Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 235/2020/TLPT-HC ngày 31 tháng 8 năm 2020, về việc:“ Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2020/QĐ-HC ngày

09/11/2020, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Bùi Xuân C, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT:

tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

Địa chỉ liên hệ: thành phố Đà Nẵng.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ: thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Đức T; chức vụ: Chủ tịch

UBND thành phố Đà Nẵng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn

Quang V – Chức vụ: Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: thành phố Đà

Nẵng; vắng mặt.

2/ Cục thuế thành phố Đà Nẵng;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Xuân Q – Chức vụ: Trưởng

phòng quản lý hộ kinh doanh, cá nhân và thu khác; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt..

Địa chỉ: thành phố Đà Nẵng.

3/ Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1985;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Xuân C; Cùng địa chỉ: thành phố

Đà Nẵng; có mặt.

4/ Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Việt H – Chức vụ: Trưởng

phòng quản lý và phát triển quỹ đất; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà người khởi

kiện là ông Bùi Xuân C trình bày:

Ông và vợ (bà Nguyễn Thị O) là người trúng đấu giá quyền sử dụng đất

đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S TP Đà Nẵng.

Trên cơ sở kết quả đấu giá, ngày 29 tháng 03 năm 2017 Chủ tịch Uỷ ban

nhân dân thành phố Đà Nẵng đã có Quyết định số 1640/QĐ-UBND về việc công nhận kết quả đấu giá đối với 33 lô đất thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S thành phố Đà Nẵng. Trong đó có ông và vợ là bà Nguyễn Thị O trúng đấu giá lô đất số 07 với số tiền là 7.872.778.300 đồng.

Ngày 12/4/2017, Cục thuế thành phố Đà Nẵng phát hành Thông báo nộp

tiền sử dụng đất chia làm hai đợt, đợt 1: 50% nộp vào ngày 11/5/2017; đợt 2: 50% nộp ngày 10/7/2017.

Thực hiện Thông báo của Cục thuế thành phố Đà Nẵng, ông C nộp:

Đợt 1: Ngày 09/5/2017 ông C nộp 50% số tiền là 3.605.389.150 đồng,

sớm hơn 02 ngày).

Đợt 2: Ngày 24/7/2017 ông nộp 50% số tiền còn lại là 3.605.389.150

đồng (lý do ông chờ thông báo nộp lần 2 vì khi nộp đợt 1 ông đã bị thu Thông báo nộp thuế nên ông không biết thời gian nộp thuế lần 2).

Ngày 26/11/2019 ông C nộp số tiền chậm nộp là 15.442.400 đồng vào

ngân sách Nhà nước.

Như vậy đến ngày 24/7/2017 ông đã nộp đầy đủ số tiền trúng đấu giá là

7.872.778.300 đồng theo Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Cục Thuế thành phố Đà Nẵng vào Ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, đến ngày 16/11/2018, Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng

đã ban hành Quyết định số 5445/QĐ-UBND về việc hủy kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S thành phố Đà Nẵng của ông và vợ là Nguyễn Thị O.

Ông C thấy Quyết định số 5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của Uỷ

ban nhân dân thành phố Đà Nẵng là không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Bởi, ông đã nộp đầy đủ số tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất là 7.872.778.300 đồng, đối với số tiền nộp chậm đợt 2 thì ông đã nộp số tiền phạt chậm nộp là 15.442.400 đồng vào ngân sách Nhà nước. Như vậy, ông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S thành phố Đà Nẵng nhưng hơn 36 tháng kể từ ngày trúng đấu giá ông vẫn không được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vì vậy, ông Bùi Xuân C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án

hủy Quyết định số: 5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S tại Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND thành phố Đà Nẵng

vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại Văn bản số 233/UBND-STNMT ngày 13/01/2020 trình bày:

Ngày 30/09/2016, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số

6658/QĐ-UBND về việc sửa đổi nội dung điểm 4, Mục 3 phương án đấu giá quyền sử dụng đất ban hành kèm theo Quyết định số 3627/QĐ-UBND ngày 09/6/2016 của UBND thành phố về việc phê duyệt Phương án đấu giá quyền sử dụng đất; theo đó đối tượng trúng đấu giá quyền sử dụng đất có trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất theo đúng thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan Thuế, cụ thể:

“Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kí thông báo của cơ quan thuế, đối

tượng trúng đấu giá phải nộp 50% tiền sử dụng đất phải nộp, trong vòng 60 ngày tiếp theo phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại. Quá thời hạn theo thông báo của cơ quan Thuế (kể cả đợt nộp đầu tiên trong vòng 30 ngày kể từ ngày có thông báo của cơ quan Thuế), đối tượng trúng đấu giá không nộp đủ tiền sử dụng đất theo quy định này thì hủy kết quả đấu giá và thu hồi tiền cọc nộp ngân sách thành phố.”

Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 72 Luật đấu giá tài sản, ghi rõ: “Theo

thỏa thuận giữa người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản và người trúng đấu giá về việc hủy kết quả trúng đấu giá tài sản hoặc giữa người có tài sản đấu giá và người trúng đấu giá về việc hủy giao kết hợp đồng mua tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, trừ trường hợp gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”;

Ngày 29/3/2017, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1640/QĐ-

UBND về việc công nhận két quả đấu giá đối với 33 lô đất thuộc khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình khu làng cá Nại H - Đ, phường Nại H, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 12/4/2017, Cục Thuế thành phố ban hành thông báo nộp tiền sử

dụng đất số 1865/TB-CT. Theo đó, thời hạn nộp tiền: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký thông báo của cơ quan Thuế (đến ngày 11/5/2017), người sử dụng đất phải nộp 50% số tiền sử dụng đất theo thông báo, trong vòng 60 ngày tiếp theo (đến ngày 10/7/2017) người sử dụng đất phải nộp 50% số tiền sử dụng đất còn lại. Hộ gia đình cá nhân trúng đấu giá quyền sử dụng đất có trách nhiệm nộp tiền đúng theo thời hạn ghi trên thông báo. Quá thời hạn (kể cả đợt nộp đầu tiên trong vòng 30 ngày kể từ ngày có thông báo của cơ quan Thuế) thì hủy kết quả đấu giá và thu hồi tiền cọc nộp ngân sách Nhà nước.

Ông Bùi Xuân C trúng đấu giá lô đất số 07, phân khu E2 thuộc khu dân

cư phục vụ giải tỏa công trình khu Làng cá Nại H - Đ với đơn giá 20.099.000đ/m2, với tổng số tiền phải nộp là 7.872.778.300 đồng, ngày 12/4/2017 Cục thuế thành phố đã ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1865/TB-CT. Theo đó thời hạn phải nộp tiền sử dụng đất đến ngày 11/5/2017 nộp 50% số tiền sử dụng đất và đến ngày 10/7/2017 nộp 50% số tiền còn lại. Ông Bùi Xuân C đã nộp đợt 1 sớm 02 ngày (nộp ngày 09/5/2017), đợt 2 nộp trễ 14 ngày (nộp ngày 24/7/2017). Lý do ông Bùi Xuân C đưa ra là do bị tai nạn chấn động não phải nhập viện từ ngày 07/7/2017 đến ngày 24/7/2017.

Theo Hợp đồng đấu giá quyền sử dụng đất số 149/2016/HĐ-BĐG ngày

29/12/2016, quy định: “Đối tượng trúng đấu giá quyền sử dụng đất có trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất theo đúng thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày thông báo của cơ quan thuế, người trúng đấu giá nộp 50% tiền sử dụng đất phải nộp. Trong vòng 60 (sáu mươi) ngày tếp theo phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại. Quá thời hạn theo Thông báo của cơ quan Thuế (kể cả đợt nộp đầu tiên trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký thông báo của cơ quan Thuế) đối tượng trúng đấu giá không nộp tiền sử dụng đất theo quy định thì hủy kết quả đấu giá và thu hồi tiền đặt cọc nộp ngân sách thành phố”. Quy định này đã được niêm yết thông báo công khai cho người dân tham gia đấu giá biết (tại Điều 7 Hợp đồng đấu giá nêu trên quy định: Bên A yêu cầu bên B niêm yết, thông báo bán đất đấu giá tài sản đúng quy định và thông tin đầy đủ về tài sản bán đấu giá theo hợp đồng). Do đó, đây là thỏa thuận giữa người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản và người trúng đấu giá về việc hủy kết quả đấu giá tài sản.

Ngày 01/11/2018, UBND thành phố đã có Báo cáo số 8444/UBND-STP

báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc báo cáo việc xử lý trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất của Công ty cổ phần VIPICO, trong đó có trường hợp của ông Bùi Xuân C.

Ngày 16/11/2018, UBND thành phố ban hành Quyết định số 8444/QĐ-

UBND về việc hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, cụ thể: Hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H – Đại địa Bảo, quận S tại Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 02/3/2017 của chủ tịch UBND thành phố đối với ông Bùi Xuân C – bà Nguyễn Thị O do không thực hiện đúng theo cam kết tại Phiếu đăng ký tham gia đấu giá. Phương án đấu giá tại Quyết định số 3627/QĐ-UBND ngày 09/6/2016, Quyết định số 6658/QĐ-UBND ngày 30/9/2016 của UBND thành phố và Quy chế của cuộc bán đấu giá; đồng thời thu tiền đặt cọc nộp vào ngân sách thành phố theo quy định.

Ngày 23/11/2018, UBND thành phố có Công văn số 9125/UBND-KT về

việc thông tin báo chí việc hủy quyết định công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất của Công ty cổ phần VIPICO và các trường hợp tương tự thành phố Đà Nẵng; trong đó, có trường hợp ông Bùi Xuân C.

Như vậy, UBND thành phố khẳng định việc hủy bỏ kết quả đấu giá đối

với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất của ông Bùi Xuân C là phù hợp với quy định tại Phương án đấu giá quyền sử dụng đất, Quy chế của cuộc bán đấu giá và quy định của UBND thành phố về đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố; đồng thời không thống nhất với nôi dung đề nghị của ông C về việc hủy bỏ Quyết định số 5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của UBND thành phố.

- Tại văn bản số 4896/CT-HKDCN ngày 25/12/2019, quá trình tham gia

tố tụng người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cục thuế thành phố Đà Nẵng trình bày:

Cục Thuế thành phố nhận được tờ trình số 1821/TTr-TTPTQĐ ngày

15/4/2017 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng và Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc công nhận kết quả đấu giá đối với 33 lô đất thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H – Đ, phường Nại H, quận S. Căn cứ hồ sơ kèm theo Tờ trình nêu trên, Cục Thuế thành phố đã ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1865/TB-CT ngày 12/4/2017 đối với ông Bùi Xuân C và bà Nguyễn Thị O (mã số thuế 8476935933).

Tại Thông báo của cơ quan Thuế đã nêu rõ thời hạn phải nộp tiền sử

dụng đất trúng đấu giá, quá thời hạn theo thông báo của cơ quan Thuế, nếu đơn vị không nộp đủ số tiền sử dụng đất phải nộp vào Ngân sách nhà nước (kể cả đợt nộp đầu tiên trong vòng 30 ngày kể từ ngày có thông báo của cơ quan Thuế) thì hủy kết quả đấu giá và thu hồi tiền cọc nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O thực hiện nộp tiền trúng đấu giá vào ngân sách nhà nước không đúng thời hạn quy định tại Thông báo nêu trên.

Ngày 16/11/2018, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số

5445/QĐ-UBND hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H

- Đ, phường Nại H, quận S tại Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của Chủ tịch UBND thành phố.

Căn cứ Quyết định 5445/QĐ-UBND nêu trên và Thông báo số 74/TB-

TTPTQĐ ngày 19/11/2018 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Đà Nẵng về việc liên hệ làm thủ tục nhận lại tiền đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H - Đ, phường Nại H, quận S; Cục Thuế thành phố đã ban hành các công văn số 4596/CT-QLĐ ngày 24/11/2018 (lần 1), Công văn số 02/CT-QLĐ ngày 02/01/2019 (lần 2) hướng dẫn và đề nghị ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O lập giấy đề nghị hoàn trả khoản thu Ngân sách Nhà nước.

Như vậy, việc cơ quan Thuế căn cứ các Quyết định của UBND thành

phố Đà Nẵng ban hành các Thông báo nộp tiền sử dụng đất trúng đấu giá theo đúng trình tự, quy định của pháp luật thuế hiện hành đã nêu rõ thời hạn nộp, quá thời hạn thì hủy kết quả đấu giá. Việc ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O tự ý nộp tiền vào ngân sách nhà nước sau thời hạn nộp theo thông báo của cơ quan Thuế thuộc về trách nhiệm của ông C, bà O.

- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền, nghĩa vụ liên quan của bà

Nguyễn Thị O: Thống nhất theo yêu cầu của người khởi kiện.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là Trung tâm khai thác quỹ đất

thành phố Đà Nẵng: Trong suốt quá trình tố tụng không có ý kiến gì với yêu cầu của người khởi kiện.

Trên cơ sở nội dung vụ án đã xác định nêu trên, tại Bản án số

08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 193, 204 và Điều 206 của Luật Tố

tụng hành chính; Điều 55 Luật Đất đai; Điều 1 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Điều 18 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; khoản 3 Điều 12, khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 06 năm 2016 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất; Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân C về việc “Khiếu kiện

yêu cầu hủy quyết định hành chính”.

Tuyên: Hủy toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật: Quyết định số

5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hủy Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng về việc công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H - Đ, phường Nại H, quận S, thành phố Đà Nẵng cho ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm và

quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 15/3/2020, UBND thành phố Đà Nẵng

kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân C về việc hủy Quyết định số 5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hủy Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng về việc công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H - Đ, quận S, thành phố Đà Nẵng cho ông Bùi Xuân C vì: “Việc hủy bỏ kết quả đấu giá đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất của ông Bùi Xuân C là phù hợp với quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Phương án đấu giá quyền sử dụng đất, Quy chế của cuộc bán đấu giá và quy định của UBND thành phố về đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố ”.

Tại phiên tòa: Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện; người bị kiện

không rút đơn kháng cáo mà vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trên; các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của

Người bị kiện. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Sau khi nghe: Ý kiến của các bên liên quan đến nội dung kháng cáo và

tranh luận tại phiên tòa; Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng là người bị kiện đồng

thời là người kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt; những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật tố tụng hành chính tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.

[2]. Về nội dung: Trên cơ sở kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, ngày 29

tháng 03 năm 2017 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã có Quyết định số 1640/QĐ-UBND về việc công nhận kết quả đấu giá đối với 33 lô đất thuộc Khu dân cư phục vụ giải toả công trình Khu Làng cá nại H - Đ, quận S thành phố Đà Nẵng. Trong đó có lô đất đất số 07 do ông Bùi Xuân C trúng đấu giá với số tiền là 7.872.778.300 đồng.

Ngày 12/4/2017, Cục thuế thành phố Đà Nẵng phát hành Thông báo nộp

tiền sử dụng đất chia làm hai đợt, đợt 1: 50% nộp vào ngày 11/5/2017; đợt 2: 50% nộp ngày 10/7/2017. Thực hiện Thông báo của Cục thuế thành phố Đà Nẵng, ông C nộp:

Đợt 1: Ngày 09/5/2017 ông C nộp 50% số tiền là 3.605.389.150 đồng,

sớm hơn 02 ngày);

Đợt 2: Ngày 24/7/2017, ông C nộp 50% số tiền còn lại là 3.605.389.150

đồng ( chậm so với thông báo là 14 ngày, lý do chậm nộp theo ông C ông chờ thông báo nộp lần 2 vì khi nộp đợt 1 ông đã bị thu Thông báo nộp thuế nên ông không biết thời gian nộp thuế lần 2);

Ngày 26/11/2019 ông C nộp số tiền chậm nộp là 15.442.400 đồng vào

ngân sách Nhà nước;

Như vậy đến ngày 24/7/2017, ông C đã nộp đầy đủ số tiền trúng đấu

giá là 7.872.778.300 đồng theo Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Cục Thuế thành phố Đà Nẵng vào Ngân sách nhà nước.

[3]. Do ông Bùi Xuân C nộp tiền sử dụng đất đợt 2 chậm 14 ngày nên

ngày 16/11/2018, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 5445/QĐ-UBND về việc hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, cụ thể: Hủy kết quả đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H – Đại địa Bảo, quận S tại Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 02/3/2017 của chủ tịch UBND thành phố đối với ông Bùi Xuân C – bà Nguyễn Thị O do không thực hiện đúng theo cam kết tại Phiếu đăng ký tham gia đấu giá. Phương án đấu giá tại Quyết định số 3627/QĐ-UBND ngày 09/6/2016, Quyết định số 6658/QĐ-UBND ngày 30/9/2016 của UBND thành phố và Quy chế của cuộc bán đấu giá; đồng thời thu tiền đặt cọc nộp vào ngân sách thành phố theo quy định.

Không đồng ý với Quyết định số 5445/QĐ-UBND của UBND thành phố

Đà Nẵng, ông Bùi Xuân C khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chấp nhận đơn khởi kiện của ông Bùi Xuân C, Hủy toàn bộ Quyết định số 5445/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng.

[4]. Xét kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị bác

đơn khởi kiện của ông Bùi Xuân C vì: Quyết định số 5445/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng về việc hủy bỏ kết quả đấu giá đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất của ông Bùi Xuân C là phù hợp với quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Phương án đấu giá quyền sử dụng đất, Quy chế của cuộc bán đấu giá và quy định của UBND thành phố về đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố, thì thấy:

[4.1]. Khoản 2 Điều 1. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định 43/2014/NĐ-

CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai quy định:

“ 2. Việc quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai về bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư; giá đất; thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo các Nghị định khác của Chính phủ ’’. Như vậy việc thu tiền sử dụng đất được thực hiện theo Nghị định khác của Chính phủ mà cụ thể là Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất.

Khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định:

“ Điều 4 Thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất

1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu

tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất thì tiền sử dụng đất được tính bằng diện tích đất có thu tiền sử dụng đất nhân (x) với giá đất trúng đấu giá của mục đích sử dụng đất đấu giá.”

Khoản 4 Điều 14 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định: “ 4. Thời hạn nộp tiền sử dụng đất: a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Thông báo của cơ quan thuế, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo Thông báo. b) Trong vòng 60 ngày tiếp theo, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại theo Thông báo. c) Quá thời hạn quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này, người sử dụng đất chưa nộp đủ số tiền sử dụng đất theo Thông báo thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế trừ trường hợp có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất đối với những trường hợp được ghi nợ ”.

Điều 18 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định.

“ Điều 18 Xử lý chậm nộp Trường hợp chậm nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước thì người sử dụng đất phải nộp tiền chậm nộp. Việc xác định tiền chậm nộp tiền sử dụng đất thực hiện theo mức quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành ”.

Khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT

ngày 22 tháng 06 năm 2016 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất quy định:

“ 4. Người trúng đấu giá có trách nhiệm nộp tiền tại Kho bạc nhà nước

(hoặc cơ quan được Kho bạc nhà nước ủy nhiệm thu) theo đúng thời hạn tại Thông báo do cơ quan thuế ban hành. Trường hợp nộp chậm so với thời hạn quy định tại Thông báo của cơ quan thuế thì phải nộp tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật quản lý thuế”.

[4.2]. Từ những quy định của pháp luật được trích dẫn ở mục [4.1] nói trên

có cơ sở để kết luận: Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013 để áp dụng Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất và khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 06 năm 2016 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất để chấp nhận đơn khởi kiện của ông Bùi Xuân C. Hủy Quyết định số 5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hủy Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng về việc công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H

- Đ, phường Nại H, quận S, thành phố Đà Nẵng cho ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện - Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng kháng cáo yêu cầu được xem xét lại các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm nhưng không có chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm bác đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

[6]. Do bị bác đơn kháng cáo nên Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng

phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.

Bác kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng. Giữ nguyên Bản

án hành chính sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Áp dụng: Điều 55 Luật Đất đai; Điều 1 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày

15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; khoản 1 Điều 14, khoản 4 Điều 14 và Điều 18 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; khoản 3 Điều 12, khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 06 năm 2016 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất; Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số Điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân C về việc “Khiếu kiện

yêu cầu hủy quyết định hành chính”.

Hủy toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật: Quyết định số

5445/QĐ-UBND ngày 16/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hủy Quyết định số 1640/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng về việc công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với lô đất số 07, phân khu E2 thuộc Khu dân cư phục vụ giải tỏa công trình Khu Làng cá Nại H - Đ, phường Nại H, quận S, thành phố Đà Nẵng cho ông Bùi Xuân C, bà Nguyễn Thị O.

2. Án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số

326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng phải chịu 300.000đồng án phí

hành chính phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002665 ngày 22/7/2020 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

3. Án phí sơ thẩm được thực hiện theo Quyết định của Bản án hành chính

sơ thẩm số 08/2020/HC-ST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ