vanban.org

Bản án 48/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trần Viết H.

Về con chung: Giao con chung Trần Bùi Viết Nam, sinh ngày 09-6-2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trần Viết H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HNGĐ-ST
Ngày 17-10-2019
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Tâm

- Bà Phạm Thị Khanh

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 về “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST - HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T; ĐKHKTT: Thôn 2, xã H B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Th A, huyện Th Th, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Trần Viết H; trú tại: Thôn 2, xã H B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày: Chị và anh Trần Viết H kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 22-12-2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, mâu thuẫn trong quản lý làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái. Do mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2016, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Viết H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Bùi Viết Nam, sinh ngày 09-6-2013. Trường hợp ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung . Về cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh Hồng.

Về tài sản chung: Chị và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Viết H hiện cư trú tại thôn 2, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Anh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ, tuy nhiên anh H không nộp bản tự khai và cố tình không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ: Xác minh nơi cư trú của anh Trần Viết H, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H qua chính quyền địa phương và qua người làm chứng.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và tham gia các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Trần Viết H. Về con chung: Giao con chung là Trần Bùi Viết Nam, sinh ngày 09-6-2013 cho chị Tâm trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Trần Viết H đang cư trú tại thôn 2, xã H B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Viết H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Viết H hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Bùi Thị T và anh Trần Viết H.

. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Viết H phát sinh từ ngày 22-12-2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, mâu thuẫn trong quản lý làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị T yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án anh H không khai báo, không tham gia các hoạt động tố tụng của Tòa án. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trần Viết H theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Bùi Viết Nam, sinh ngày 09-6-2013. Khi ly hôn, chị Tâm đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, chị T có nơi ở và thu nhập ổn định, anh H không có quan điểm về con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cần chấp nhận yêu cầu của chị Tâm là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T xin tự giải quyết với anh H nên không đặt ra để giải quyết.

.Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết.

. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Trần Viết H.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Bùi Viết Nam, sinh ngày 09-6-2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị T và anh H tự giải quyết.

4. Án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Tâm đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai thu số 7765 ngày 11-7-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị T đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ