vanban.org

Bản án 48/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 09/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Văn N 9 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48 /2019/HS-ST
Ngày: 09-4-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung

Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2019/TLST-HS ngày 04/3/2019 đối với bị cáo:

Quách Văn N, sinh năm: 1977 tại Bạc Liêu

HKTT: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Sống lang thang; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Quách Văn B và bà Nguyễn Thị N. Bị cáo sống như vợ chồng với bà Đỗ Thị Ái Q và có 01 con tên Quách Thị Thanh T 6 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2018 đến ngày 26/12/2018 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ. (có mặt)

Bị hại:

Ông Bùi Anh K, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Kp. S, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (có đơn xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, Quách Văn N đi bộ trên đoạn đường thuộc khu phố S, phường T, thị xã P thì phát hiện trước cửa hàng điện thoại di động 177 có dựng 01 xe mô tô màu đỏ đen bạc loại xe Wave RS biển số 72L1-6199 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. N lén lút lại gần và dắt bộ chiếc xe ra Quốc lộ 51 đi về hướng Đồng Nai. N dắt xe đi được một đoạn thì bị anh Bùi Anh K là chủ sở hữu chiếc xe phát hiện tri hô cùng mọi người đuổi theo bắt giữ được Nhân và tang vật.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ, Quách Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 215/KL-HĐĐG-TTHS ngày 25/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - UBND thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định 1 chiếc xe Wave RS biển số 72L1-6199 đã qua sử dụng có giá trị 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan CSĐT công an thị xã Phú Mỹ đã tiến hành trả lại 1 chiếc xe Wave RS biển số 72L1-6199 cho chủ sở hữu là anh Bùi Anh K.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Bùi Anh K nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 28/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Quách Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Quách Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Bị hại anh Bùi Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt và xác định không yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Bị cáo Quách Văn N không tranh luận về tội danh, mức hình phạt chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, nhân chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, tại khu vực trước cửa hàng điện thoại di dộng 177 ở khu phố S, phường T, thị xã P, Quách Văn N đã lén lút lấy cắp của anh Bùi Anh K 01 chiếc xe mô tô loại Wave RS màu đỏ đen bạc BKS 72L1-6199 trị giá 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho người dân. Bị cáo đã trưởng thành, có sức khỏe, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã cố ý lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội chưa gây thiệt hại nên được áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô loại Wave RS BKS 72L1-6199 cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu là ông Bùi Anh K. Ông K không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Quách Văn N 9 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/12/2018.

Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo Quách Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án (Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ