- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Trung Hong T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Trung Hồng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 48/2019/HSST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Ngày: 03/9/2019
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƢƠNG MỸ LINH
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông PHẠM VĂN TUẤT
2/ Bà VĂN THỊ LỆ VĂN
- Thư ký phiên tòa: Bà LÊ NHƢ TRUNG HẬU – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Khánh Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông
HOÀNG ANH TRÍ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
VÕ TRUNG HỒNG T (tên gọi khác: T Bêđê, Ty em) - Sinh năm 1982 tại Khánh Hòa
Nơi ĐKHKTT: 21 N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở: 305/84 đường L, NH1, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Võ Văn X – sinh năm 1944 và bà Hồ Thị H (đã chét)
Chưa có vợ con
Tiền án:
- Bản án số 14/2017/HS-PT ngày 20/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 17/2017/HS-PT ngày 20/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 18 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2018.
Tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Ivan U (Quốc tịch Nga) – Sinh năm 1983
Trú tại: Phòng 603, Khách sạn K, số 98 H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị Minh T – Sinh năm 1964
Trú tại: 31 T, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hoà. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch:
Ông Trần Đức Th – Sinh năm 1950
Trú tại: 11B đường P, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hoà. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Lê Minh T1 – Sinh năm 1995
Trú tại: 98 H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 2 giờ ngày 24/02/2019, Võ Trung Hồng T mặc quần áo con gái, điều khiển xe môtô biển kiểm soát 79K4-8840 đi tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực trước khách sạn H– số 3 đường N, phường L, thành phố N thì phát hiện anh Ivan U (Quốc tịch Nga, trú tại phòng 603 khách sạn K, số 98 H, N) cùng vợ đi bộ trên đường. T xuống xe rồi đi đến gần, dùng tay phải sờ soạng khắp người anh Ivan. Lợi dụng lúc anh Ivan sơ hở không để ý, T dùng tay trái lấy trộm một ví da trong túi quần anh Ivan rồi nhanh chóng lên xe bỏ đi. Sau đó, T về phòng trọ tại NH, xã V, thành phố N kiểm tra trong ví có 30 USD, 550.000 đồng, 1 giấy phép lái xe, 2 thẻ Mastercard mang tên Ivan U. T lấy tiền sử dụng hết, còn ví và giấy tờ cất giấu tại phòng trọ.
Đến khoảng 23 giờ ngày 01/3/2019, T tiếp tục điều khiển xe mô tô 79K4-X đi trên đường H, phường L thì bị anh Ivan U nhìn thấy. Nhận ra T là người đã trộm cắp ví da của mình vào ngày 24/02/2019 nên anh Ivan giữ lại và báo công an đưa T về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, Võ Trung Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo tỷ giá đồng Việt Nam với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố, áp dụng cho ngày 23//02/2019 thì 22.906 VNĐ = 1 USD. Như vậy số tiền mà Võ Trung Hồng T trộm cắp của anh Ivan U là 550.000 + 30USD x 22.906 VNĐ/USD = 1.237.180 đồng.
Đối với chiếc ví da màu đen hiệu Premier do không đủ thông tin nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N không kết luận được giá trị.
Vật chứng vụ án:
- 1 chiếc ví da màu đen hiệu Premier, 1 giấy phép lái xe và 2 thẻ Mastercard mang tên Ivan U đã trả cho chủ sở hữu.
- Xe môtô biển kiểm soát 79K4-8840 đã được trả cho chủ sở hữu là bà Vũ Thị Minh T.
Phần dân sự: Người bị hại Ivan U đã được bồi thường số tiền 1.250.000 đồng, bà Vũ Thị Minh T đã nhận lại xe mô tô nên không có yêu cầu gì.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKSKH-P1 ngày 07/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị can Võ Trung Hồng T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Võ Trung Hồng T. Sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Võ Trung Hồng T mức hình phạt từ 9 đến 12 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự, người bị hại có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Theo hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại là ông Ivan U và người làm chứng – anh Lê Minh T1 có yêu cầu được xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Vũ Thị Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không gây cản trở đối với việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Trung Hồng T thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 24/02/2019, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc ví da bên trong có 30 USD, 550.000 đồng, 1 giấy phép lái xe, 2 thẻ Mastercard của anh Ivan U. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp là 1.237.180 đồng. Bị cáo đã từng hai lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nên các tiền án của bị cáo là yếu tố định tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo vào ngày 24/02/2019. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương và hình ảnh của đất nước đối với quốc tế, gây tâm lý hoang mang cho du khách nước ngoài. Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Trung Hồng T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt được cho người bị hại và giao nộp cho cơ quan Công an chiếc ví da cùng các giấy tờ của anh Ivan U. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Theo hồ sơ vụ án, người bị hại là anh Ivan U xác định đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị chiếm đoạt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Vũ Thị Minh T xác định đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 79K4-X. Người bị hại yêu cầu được xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét. Chị Vũ Thị Minh T vắng mặt tại phiên tòa nên cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo Võ Trung Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Trung Hồng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo VÕ TRUNG HỒNG T 9 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
Tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Vũ Thị Minh T có đơn yêu cầu.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Võ Trung Hồng T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Khánh Hòa - Công an tỉnh Khánh Hòa - VKSND CC tại Đà Nẵng - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa - Sở Tư pháp tỉnh K/Hòa - Bị cáo + Người TGTT - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM VƢƠNG MỸ LINH |