- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2019/HSST Ngày 18/06/2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Thư
Bà Trịnh Thị Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXX-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
1. Lê Xuân C - Sinh ngày 01/10/1974. Tại: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Trú tại: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Lê Xuân Giám và bà Trương Thị Thắng; Vợ: Nguyễn Thị Hằng; 02 con: Lớn sinh năm 2000 nhỏ sinh năm 2002; Tiền án; Không, Tiền sự: Ngày 16/10/2018 bị đồn biên phòng Hoằng Trường xử phạt hành chính về hành vi: Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2018 đến ngày 03/02/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Đình Dũng - Sinh ngày 02/9/1979. Tại: thôn G, xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trú tại: thôn G, xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn Đình Thăng và bà Phạm Thị Hòa; Vợ: Lê Thị Định; Có 02 con: Lớn sinh năm 2015 nhỏ sinh năm 2016; Tiền án; Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018 đến ngày 17/01/2019. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại: - Anh Trương Đình Tuấn, sinh năm 1986. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Phạm Sang, sinh năm 1976. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người làm chứng: - Anh Trương Đình Hiền, sinh năm 1988.Vắng mặt
Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1978. Có mặt
Địa chỉ: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Thị Định, sinh năm 1989. Có mặt
Địa chỉ: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 21h ngày 13/12/2018 Lê Xuân C điều khiển xe môtô biển số 29S7-3755 từ nhà đến cảng lạch trường để lên tàu trộm cắp. Khi đến bờ kè cảng gặp Nguyễn Đình D đang đi bộ C rủ D cùng tham gia trộm cắp D đồng ý, C dựng xe môtô trên bờ cả hai quan sát trên bãi biển có nhiều tàu đánh cá của ngư dân neo đậu sát nhau, mũi tàu quay vào bờ nhưng không có người trông coi và có một cái thang bắc từ bờ kè lên mũi tàu để cư dân lên xuống tàu. C và D đi bộ lên tàu số hiệu TH 90539TS của anh Trương Đình T ở cùng xã H. D đứng ngoài Lê Xuân C dùng tay đẩy chốt cửa cabin hông bên trái tàu làm chốt cửa bật ra, đột nhập vào bên trong trộm cắp 03 thùng dầu nhờn nhãn hiệu MOBIL loại 20 lít rồi đưa cho D vận chuyển ra ngoài. Rồi cả hai sang tàu số hiệu TH 90218 TS của gia đình anh Lê Phạm S đậu gần đó. C dùng tay đẩy cánh cửa hông bên trái làm chốt bật ra và cả hai vào khoang cabin, C dùng dao có sẵn trên tàu chặt đứt dây điện lấy trộm 03 bình ắc quy hiệu đồng nai để dưới gầm giường 01 bộ định vị màu xám hiệu SUNHANG GPS-DP32 để trên bàn thờ cạnh vô lăng tàu cả hai dùng tay khiêng các bình ắc quy và tài sản trộm cắp lên bờ kè, còn C tiếp tục quay lại tàu của gia đình anh T lấy một bộ đàm màu đen rồi cả hai đặt tài sản trộm cắp được gồm (03 bình ắc quy, 03 thùng dầu nhờn, 01 bộ đàm, 01 định vị) lên xe môtô BKS 29S7-3755 vận chuyển đến nhà C cất dấu.
Đến sáng ngày 14/12/2018 anh Trương Đình T và anh Lê Phạm S đến kiểm tra trên tàu thì phát hiện bị mất tài sản và đã cho người nhà đi tìm tài sản bị mất cắp, sau đó đến Công xã H trình báo.
Anh Trương Đình Hiền sinh năm 1988 là em trai của anh T đi tìm tài sản và phát hiện gian thờ cúng của gia đình anh C ở xã H có 02 bình ắc quy màu đen có ghi chữ “Tuấn Dục” đã cùng các bị hại đến công an huyện Hoằng Hóa báo cáo.
Cơ quan điều tra công an huyện Hoằng Hóa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và ra lệnh khám xét tại nơi ở của Lê Xuân C; Tại biên bản khám xét hồi 18h35 phút ngày 17/12/2018 tại gian thờ nhà Lê Xuân C Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ: 02 bình ắc quy hiệu đồng nai bên hông có dòng chữ “Tuấn Dục” ; 03 bình ắc quy hiệu đồng nai, 01 định vị màu xám hiệu SUNHANG GPS-DP32, 01 bộ đàm màu đen và 03 thùng dầu nhờn MOBIL loại 20 lít tại góc tường, cùng 01 xe mô tô biển số 29S7- 3755 và 01 đăng ký xe mô tô là vật chứng của vụ án
Vụ thứ hai: Ngoài lần phạm tội trên khoảng 22h trước ngày 13/12/2018 khoảng 2 tháng một mình Lê Xuân C đã xuống tàu đánh bắt hải sản của anh T neo đậu tại cảng Lạch trường trộm cắp 02 bình ắc quy hiệu Đồng nai màu đen có ghi dòng chữ “Tuấn Dục” về nhà cất dấu; đến ngày 17/12/2018 bị Cơ quan điều tra công an huyện Hoằng Hóa khám xét và thu giữ.
Tại kết luận định giá tài sản số: 48/HDĐG-HH ngày 25/12/2018 của Hội đồng định giá tài
trong tố tụng hình sự kết luận: Gía trị tài sản định giá 03 bình Ắc quy hiệu Đồng Nai màu đen, 03 thùng dầu nhờn, 01 bộ đàm, 01 định vị là tài sản mà Lê Xuân C và Nguyễn Đình D trộm cắp ngày 13/12/2018 của gia đình anh T và gia đình anh S có trị giá: 15.840.000đồng( Trong đó của anh Lê Phạm S 9.800.000đồng; của anh Trương Đình T là 6.040.000đồng).
Kết luận định giá tài sản số 01/HĐĐG –HH ngày 09/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Hoằng Hóa kết luận: Gía trị của tài sản định giá gồm 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai màu đen có ghi dòng chữ “Tuấn dục” là tài sản mà Lê Xuân C trộm cắp của gia đình anh T vào khoảng tháng 10/2018 có giá trị 4.800.000đồng.
Vật chứng: Sau khi định giá cơ quan điều tra công an Công an huyện Hoằng Hóa đã chuyển cơ quan thi hành án huyện Hoằng Hóa để chờ xét xử.
Tại bản cáo trạng số 48/CTr - VKSHH ngày 22 tháng 05 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xét xử các bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” với mức hình phạt đối với Lê Xuân C từ 24 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam. Bị cáo Nguyễn Đình D từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại 03 bình ắc quy hiệu đồng nai( 02 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bình đã qua sử dụng; 01 định vị màu xám hiệu SUNHANG GPS-DP3203 máy cũ, gỉ sét các phần đầu nối cho anh Lê Phạm S; 02 bình ắc quy hiệu đồng nai( 01 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bên hông có dòng chữ Tuấn Dục bình cũ đã qua sử dụng; 03 thùng dầu nhờn hiệu MOBIL loại 20 lít; 01 bộ đàm cho anh Trương Đình T.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 29S7- 3755 bị cáo khai là mua của một người không quen biết ở thành phố Thanh Hóa, cơ quan điều tra đã ra tra cứu nguồn gốc xe nhưng không có trong cư sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu thanh lý. Đăng ký xe cần trả lại cho cơ quan công an huyện Hoằng Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với con dao mà Lê Xuân C đã dùng để chặt dây điện đấu bình ắc quy trên tàu của anh Lê Phạm S. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D trình bày: Các bị cáo do không biết chữ, các bị cáo nhận thấy được lỗi lầm của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, lợi dụng thuyền nhà anh T và anh S không có người trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp của chủ sở hữu, tài sản trộm cắp đối với bị cáo C là 20.640.000đồng. Bị cáo D là 15.840.000đồng. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai có trong tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “ Trộm cắp tài sản”, tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật đồng thời gây mất an ninh trật tự taị địa phương. Vì vậy cần có một hình phạt tương xứng đối với mức độ nguy hiểm mà các bị cáo gây ra và cần cho các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không mang tính chất tổ chức. Do đó cần phân hóa vai trò của từng bị cáo. Đối với bị cáo Lê Xuân C là người có xe mô tô rủ D đi trộm cắp tài sản nên vai trò của C cao hơn D. Bị cáo Nguyễn Đình D khi ra đến bờ cảng gặp C và C rủ D cùng đi trộm cắp nên vai trò của D thấp hơn C.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Xuân C thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Đình D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Bị cáo Lê Xuân C ngày 16/10/2018 bị đồn biên phòng xã Hoằng Trường xử phạt hành chính về hành vi “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác” bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS ( Bị cáo Nguyễn Đình D thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản i,s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lê Xuân C có bố là ông Lê Xuân Gián tham gia kháng chiến và được tặng bằng khen của tỉnh, đối với 02 bình ắc quy hiệu Đồng nai màu đen có ghi dòng chữ “Tuấn Dục” bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra; Bị cáo Nguyễn Đình gia đình nhà bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có nơi cư trú ổn định nên bị cáo C và D được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội ngoài hình phạt chính có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Trả lại 03 bình ắc quy hiệu đồng nai( 02 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bình đã qua sử dụng; 01 định vị màu xám hiệu SUNHANG GPS-DP3203 máy cũ, gỉ sét các phần đầu nối cho anh Lê Phạm Sang; 02 bình ắc quy hiệu đồng nai( 01 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bên hông có dòng chữ Tuấn Dục bình cũ đã qua sử dụng; 03 thùng dầu nhờn hiệu MOBIL loại 20 lít; 01 bộ đàm cho anh Trương Đình Tuấn.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 29S7- 3755 bị cáo khai là mua của một người không quen biết ở thành phố Thanh Hóa, cơ quan điều tra đã ra quyết định thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu thanh lý số tiền thu được để sung quỹ nhà nước .
Đối với đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thanh Tâm hiện đang lưu giữ tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa chuyển cho cơ quan điều tra công an huyện Hoằng Hóa xử lý theo quy định của pháp luật;
Về án phí: Các bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân Chiến 07( Bảy) tháng tù. Trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 48(Bốn tám) ngày, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 05(năm) tháng 4 ngày. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 18( Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 31 ngày quy đổi là 93 ngày (01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) bị cáo còn phải chấp hành là 14( mười bốn) tháng 9 ngày.
Giao bị cáo Nguyễn Đình D cho UBND xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đình D. Vì có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động tự do không có thu nhập ổn định
Về vật chứng: Căn cứ khoản 2,3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Trả lại 03 bình ắc quy hiệu đồng nai( 02 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bình đã qua sử dụng; 01 định vị màu xám hiệu SUNHANG GPS-DP3203 máy cũ, gỉ sét các phần đầu nối cho anh Lê Phạm Sang; 02 bình ắc quy hiệu đồng nai( 01 bình loại 12v-210AH, 01 bình loại 12v-200Ah) bên hông có dòng chữ Tuấn Dục bình cũ đã qua sử dụng; 03 thùng dầu nhờn hiệu MOBIL loại 20 lít; 01 bộ đàm cho anh Trương Đình Tuấn.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 29S7- 3755 bị cáo khai là mua của một người không quen biết ở thành phố Thanh Hóa, cơ quan điều tra đã ra quyết định thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu thanh lý, số tiền thu được xung quỹ nhà nước.
Đối với đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thanh Tâm hiện đang lưu trữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa chuyển cho cơ quan điều tra công an huyện Hoằng Hóa xử lý theo quy định của pháp luật;
(Tất cả vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 58/BBGN ngày 29/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo Lê Xuân C, Nguyễn Đình D chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Chi cục THADS h.Hoằng Hóa; -Công an h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Bị cáo; - Người bị hại; -UBND xã; Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phƣơng |