- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Xuan Chi A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Căn c vào Điều 345, các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm a, b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K Bản án số: 48/2019/HSPT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Ngày: 08/4/2019
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƯƠNG MỸ LINH
Các Thẩm phán:
1/ Ông NGUYỄN ANH
2/ Ông LÊ THÀNH TRUNG
- Thư ký phiên tòa: Bà ĐỖ GIA LINH – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
tỉnh K
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông
NGUYỄN VĂN NHƠN - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 200/2018/HSPT ngày 14 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và đồng phạm, do có kháng cáo của người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HSST ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh K.
- Bị cáo bị kháng cáo:
1/ NGUYỄN XUÂN CHI A - Sinh năm 1998 tại K
Nơi cư trú: Thôn HA, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh K.
Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Xuân P – Sinh năm: 1966 và bà: Nguyễn Thị Bạch H – Sinh năm: 1964
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
2/ NGUYỄN XUÂN P - Sinh năm 1966 tại Q
Nơi cư trú: Thôn HA, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh K.
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hoá: 03/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn L (chết) và bà Dương Thị N (chết)
Vợ: Nguyễn Thị Bạch H, có 3 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
3/ NGUYỄN DUY C - Sinh năm 1998 tại K
Nơi cư trú: Thôn G, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh K.
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Văn M (sinh năm 1963) và bà Võ Thị Đ(sinh năm 1965)
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
- B hại có kháng cáo: Ông Ng Thành C1 – Sinh năm 1978
Trú tại: T dân phố V, phường CL, thành phố C, tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
- Ng i làm ch ng:
1. Bà Ngu n Th B ch H – Sinh năm 1964
Trú tại: Thôn HA, x CPĐ, thành phố C, tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Ngu n Nh T – Sinh năm 1984
Trú tại: Thôn HB, x CPĐ, thành phố C, tỉnh K.
Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Ng Thành P – Sinh năm 1980
Trú tại: T dân phố V, phường CL, thành phố C, tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân P và Ngô Thành C1 có mâu thu n với nhau về việc bò của C1 thường xuyên phá hoại cây trong r y của Pháp.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25 02 2018, P nói với con trai mình là Nguyễn Xuân Chi A về việc C1 thả bò vào r y, thách th c đánh nhau. A nói: Để mai lên đánh lại nó”. A chuẩn bị 02 m tấu, 01 tuýp sắt để đánh C1.
Đến khoảng 06 giờ ngày 26 02 2018, A nói P c m rựa lên r y của C1 trước, còn A đi nhờ thêm Nguyễn Ng c D và Nguyễn Duy C để phụ đánh C1. P đồng ý. Thấy vậy thì vợ P là Nguyễn Thị Bạch H can ngăn nhưng A, P không đồng ý. P c m 01 rựa đi lên r y của C1 ở thôn S, x CPĐ, thành phố C, tỉnh K. H đi theo P lên r y để can ngăn. A rủ Nguyễn Ng c D và Nguyễn Duy C đi đánh C1, D và C đồng ý. D c m 01 m tấu đến r y C. Tại đây, P c m 01 rựa, D c m 02 m tấu, A c m 01 tuýp sắt. P, A, D, C đi vào r y đánh C1 thì H can ngăn lại nhưng không được. P d ng ph n sóng rựa đánh trúng chân C1, A d ng tuýp sắt đánh trúng chân C1. D c m m tấu đe d a C1. C1 bỏ chạy thì nhóm của P đu i theo. C1 chạy được một đoạn thì té ng . A đu i theo d ng tuýp sắt đánh trúng chân C1. C1 tiếp tục bỏ chạy được một đoạn thì té ng . A đu i theo d ng tuýp sắt đánh trúng chân C1. P c m rựa chém vào chân phải C1. D c m m tấu chém vào chân trái C1. C chạy đến thì D đưa m tấu cho C, C c m m tấu kề vào c của C1 nói: Tại sao mày đánh ông già bạn tao”. Thấy chân của C1 chảy máu nên nhóm của P không đánh C1 n a mà đi về.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 112 TgT ngày 02 5 2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K kết luận: T lệ thương tật của Ngô Thành C1 là 26 .
Sau khi phạm tội, Nguyễn Ng c D bỏ trốn.
Các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P, Nguyễn Duy C đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đ nêu trên.
Đối với Nguyễn Ng c D, sau khi phạm tội đ bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đ tiến hành truy n và ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với D, khi nào bắt được s xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Bạch H đi c ng P, A, D, C đến r y C1 nhưng để can ngăn, không tham gia đánh Chung nên không truy c u trách nhiệm hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 18/10 2018 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh K đ quyết định: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và Nguyễn Xuân P; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Duy C; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Chi A 02 năm 06 tháng t , bị cáo Nguyễn Xuân P 02 năm 03 tháng t , bị cáo Nguyễn Duy C 02 năm t , về tội C ý gâ thư ng t ch , thời hạn phạt t tính t ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 25 10 2018, bị hại Ngô Thành C1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị xem xét lại tội danh, đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự và tăng m c bồi thường thiệt hại đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại gi nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận một ph n kháng cáo của bị hại, gi nguyên bản án sơ thẩm về m c hình phạt đối với các bị cáo; chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại về trách nhiệm dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng m c bồi thường thiệt hại của các bị cáo đối với người bị hại.
Tại lời nói sau c ng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ m c hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Đơn kháng cáo được người bị hại nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân thành phố C vào ngày 25/10/2018. Theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của người bị hại là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của người bị hại theo trình tự phúc thẩm.
Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm ch ng Nguyễn Như T đ được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa, người bị hại Ngô Thành C1 xác định bị hại không yêu c u luật sư Nguyễn Thị Minh T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phiên tòa phúc thẩm. Căn c Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định luật sư Nguyễn Thị Minh T không tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và quyết định xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng là ông Nguyễn Như T.
Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P và Nguyễn Duy C th a nhận hành vi các bị cáo đ thực hiện gây thương tích cho người bị hại Ngô Thành C1 như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh K. ời khai nhận tội của các bị cáo ph hợp với lời khai của người bị hại, người làm ch ng và các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 26/02/2018, các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P đ có hành vi d ng hung khí nguy hiểm đánh, chém vào chân của người bị hại Ngô Thành C1, Nguyễn Duy C đ có hành vi khống chế, kề m tấu vào c của người bị hại, gây thương tích cho anh C1 với t lệ thương tật là 26 . Hành vi của các bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nội dung kháng cáo của người bị hại Ngô Thành C1:
. Xét kháng cáo của người bị hại về tội danh đ i với các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấ :
Theo lời khai của các bị cáo và người làm ch ng trong vụ án thể hiện: Vào ngày 26 02 2018, sau khi chuẩn bị hung khí gồm rựa, m tấu và tuýp sắt, Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P, Nguyễn Duy C, Nguyễn Ng c D đ đến khu vực r y của người bị hại Ngô Thành C1 để tìm đánh anh C1. P sủ dụng sóng rựa đánh vào chân C1, A d ng tuýp sắt đánh trúng chân C1, D d ng m tấu chém vào chân C1, C c m m tấu kề vào c C1. Các bị cáo đều th a nhận không có ý th c tước đoạt tính mạng của người bị hại mà chỉ đánh, chém vào chân với mục đích gây thương tích cho người bị hại. Đồng thời, qua đối chiếu gi a các vật ch ng trong vụ án với lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm ch ng và các thương tích trên cơ thể người bị hại Ngô Thành C1 theo hồ sơ bệnh án, giấy ch ng nhận thương tích, bản kết luận giám định pháp y về thương tích là hoàn toàn ph hợp. Vì vậy không có cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P và Nguyễn Duy C1 có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người bị hại. Có căn c để cho rằng, hành vi của các bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
. Xét kháng cáo của người bị hại về mức hình phạt đ i với các bị cáo, nhận thấ :
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, s c khỏe của người khác được pháp luật Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân Chi A đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên các bị cáo không nhận th c được lỗi l m, không có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà các bị cáo đ gây ra đối với người bị hại. Các bị cáo Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân Chi A đều có vai trò tích cực như nhau trong việc gây thương tích cho người bị hại Ngô Thành C1, nên hành vi của các bị cáo c n phải được xử lý nghiêm khắc để mang lại hiệu quả răn đe, giáo dục chung cho toàn x hội. Tuy nhiên, m c hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm đ tuyên đối với các bị cáo Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân Chi A là không tương x ng với tính chất, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy c n chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại, tăng m c hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân Chi A mới đảm bảo ph hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Duy C, xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét đ y đủ tính chất, m c độ, hậu quả của hành vi phạm tội, hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 2 năm t là hoàn toàn ph hợp với tính chất, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử không có căn c để chấp nhận kháng cáo yêu c u tăng nặng hình phạt của người bị hại đối với bị cáo Nguyễn Duy C.
. Xét kháng cáo của người bị hại êu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại đ i với các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấ :
Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại nh ng thiệt hại bao gồm: tiền thuốc và viện phí: 13.917.463 đồng, tiền bồi dưỡng s c khỏe 6.000.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất 30.000.0000 đồng, tiền công người chăm sóc 12.000.000 đồng, t n thất về tinh th n 16.680.000 đồng. T ng số tiền bồi thường thiệt hại Tòa án cấp sơ thẩm liệt kê là 78.597.463 đồng, nhưng cấp sơ thẩm đ nh m l n trong việc tính toán số liệu nên đ buộc bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền t ng cộng 81.223.263 đồng là thiếu sót c n phải rút kinh nghiệm.
Xem xét các khoản yêu c u bồi thường thiệt hại của người bị hại, xét thấy yêu c u của người bị hại về chi phí mua xe lăn 2.800.000 đồng là chi phí thực tế hợp lý, đồng thời xem xét m c t n thất về tinh th n của người bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy c n chấp nhận tăng m c bồi thường t n thất về tinh th n của người bị hại tương ng với 15 tháng lương cơ sở (t c 15 tháng x 1.390.000 đồng tháng = 20.850.000 đồng) mới ph hợp. Như vậy, các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P và Nguyễn Duy C phải liên đới bồi thường cho người bị hại Ngô Thành C1 số tiền 85.567.463 đồng, bao gồm:
- Tiền thuốc và viện phí: 13.917.463 đồng
- Tiền bồi dưỡng s c khỏe 6.000.000 đồng
- Tiền thu nhập thực tế bị mất 30.000.0000 đồng
- Tiền công người chăm sóc 12.000.000 đồng
- Bồi thường t n thất về tinh th n 20.850.000 đồng
- Tiền xe lăn: 2.800.000 đồng
Trong đó, căn c theo m c độ lỗi và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và Nguyễn Xuân P mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 35.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Duy C phải bồi thường cho bị hại số tiền 15.567.463 đồng. Các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và Nguyễn Xuân P đ cùng bồi thường cho người bị hại 15.000.000 đồng nên mỗi bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 27.500.000 đồng.
Về án phí: Người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Do bản án sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 18/10 2018 của Tòa án nhân dân thành phố C bị sửa về m c bồi thường thiệt hại nên c n sửa ph n án phí sơ thẩm mà các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào Điều 345, các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm a, b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1/ Không chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại, gi nguyên bản án sơ thẩm về tội danh đối với các bị cáo Nguyễn Xuân P, Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Duy C.
Chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân Chi A.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và Nguyễn Xuân P;
Xử phạt bị cáo NGUYỄN XUÂN CHI A 3 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo NGUYỄN XUÂN P 3 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bắt thi hành án.
2 Không chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại, gi nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy C.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Duy C;
Xử phạt bị cáo NGUYỄN DUY C 2 (hai) năm tù về tội Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bắt thi hành án.
3 Chấp nhận một ph n kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm về m c bồi thường thiệt hại đối với các bị cáo.
Áp dụng các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; buộc các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A, Nguyễn Xuân P, Nguyễn Duy C phải liên đới bồi thường cho người bị hại Ngô Thành C1 số tiền 70.567.463 đồng; trong đó bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và bị cáo Nguyễn Xuân P mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Ngô Thành C1 số tiền 27.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Duy C phải bồi thường cho anh Ngô Thành C1 số tiền 15.567.463 đồng.
4/ Về án phí: Căn c Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Người bị hại Ngô Thành C1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Xuân Chi A và Nguyễn Xuân P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.375.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Duy C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 778.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5 Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật, kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể t ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh K - Công an TP C - VKSND TP C - Chi cục THADS TP C - TAND TP C - Sở Tư pháp tỉnh K - Bị cáo + Người TGTT - ưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đ ký) LÂM VƯƠNG MỸ LINH |