- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Như Q phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2019/HS-ST Ngày: 29-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Tâm.
2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Như Q, sinh năm 1993 tại tỉnh T; hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã T, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh K xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2016, chấp hành xong nghĩa vụ án phí ngày 01/02/2016.
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ly N, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã B, tỉnh B, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ, ngày 05/01/2019, bị cáo Nguyễn Như Q đi bộ đến trước vựa ve chai của bà Nguyễn Thị Ly N ở Ấp P, xã P, thị xã B, tỉnh B. Thấy không có người trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định đột nhập vào vựa ve chai để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Q dùng tay kéo hàng rào lưới B40 trước vựa ve chai lên và chui vào bên trong lục tìm tài sản để lấy trộm. Q tìm thấy một bao tải màu trắng bên trong có đựng đồng phế liệu và vác bao đồng phế liệu ném qua hàng rào lưới B40. Sau đó Q dùng tay kéo lưới B40 lên, chui ra ngoài, vác bao đồng vừa trộm được đi về hướng xã A, thị xã B để tìm nơi tiêu thụ tài sản. Q đi cách tiệm phế liệu của bà N được khoảng 500 mét thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 07/01/2019 của Hội đồng Định giá tài sản thị xã B kết luận: 01 bao đồng phế liệu trọng lượng 34 kg có giá 3.230.000 đồng.
Ngày 15/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trao trả cho bà Nguyễn Thị Ly N 01 bao đồng phế liệu có trọng lượng 34 kg. Bà N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 14/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Như Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Như Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q mức án từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Nguyễn Thị Ly N vắng mặt tại phiên tòa, theo lời khai có trong hồ sơ vụ án: Bị hại đã nhận lại số tài sản bị mất, không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Như Q đã khai nhận: Vào khoảng 02 giờ, ngày 05/01/2019, bị cáo đến vựa phế liệu của bị hại Nguyễn Thị Ly N ở ấp P, xã P, thị xã B. Thấy không có người trông coi nên bị cáo đã lén lút vén hàng rào lưới B40 để chui vào bên trong vựa phế liệu lấy trộm 01 bao đồng phế liệu có trọng lượng 34 kg của bị hại N. Sau đó, bị cáo vác bao đồng đi tìm nơi tiêu thụ. Đi được 500 mét thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, bản chất tham lam, lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 bao đồng phế liệu trọng lượng 34 kg trị giá 3.230.000 đồng của bị hại Nguyễn Thị Ly N. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Như Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 14/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Như Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; bị hại cũng có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Ngày 02/12/2015, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh K xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2015/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/10/2016, đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí vào ngày 01/02/2016.
Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ly N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ bị thu giữ, là tài sản hợp pháp của bị cáo; 01 bao đựng đồng vụn phế liệu có trọng lượng 34kg là tài sản của bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã giao trả lại các tài sản trên cho bị cáo và bị hại là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Như Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Duyên |