vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn A phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HS-ST
Ngày 11/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Tao

2. Bà Trần Thị Bích Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/QĐXXST-HS ngày 30/9/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Tuấn A, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 769/130 P, phường z, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Bá L và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Như Tr và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/11/2018, UBND phường z, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, số 259/QĐ-UBND, thời hạn 03 tháng; Nhân thân: Ngày 10/4/2015 TAND huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 42/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 06/02/2017; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2019 đến nay (có mặt).

Người bị hại: Chị Vũ Thị B; Nơi cư trú: Số 1208/16 đường N, Ấp z, H, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2019, Trần Tuấn A đi bộ từ khu dân cư Trung Sơn, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Nhà Bè để tìm trộm tài sản. Khi đi đến trước nhà số 101 ấp z, xã P, huyện Nhà Bè thì phát hiện cửa hàng rào mở, bên trong khuôn viên nhà có đậu chiếc xe môtô hiệu honda ViSon, màu đỏ, biển số 59Z1-410.57 do chị Vũ Thị B làm chủ nên Tuấn A đi vào để trộm cắp. Lúc này, Tuấn A quan sát thấy chìa khóa xe để trên bộ ván gỗ ở cạnh cửa nhà sau nên đã lấy chìa khóa cắm vào ổ khóa xe rồi dẫn xe ra khỏi nhà nổ máy xe chạy đi. Đến khoảng 15 giờ ngày 23 tháng 4 năm 2019, Tuấn A điều khiển xe môtô biển số 59Z1-410.57 đi đến Viện y tế cộng đồng, số 159 Hưng Phú, Phường 8, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh mua 01 biển số 70L1-639.08 của một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đem về nhà. Khi về nhà, Tuấn A tháo biển số 59Z1-410.57 ra rồi gắn biển số 70L1-639.08 vào xe môtô do Tuấn A trộm cắp được để sử dụng làm phương tiện đi lại tránh bị phát hiện và mang biển số 59Z1-410.57 vứt bỏ xuống sông dưới chân cầu Chữ Y thuộc phường 8, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Bị mất trộm tài sản chị Vũ Thị B đến trụ sở Công an trình báo. Ngày 31 tháng 5 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè bắt tạm giam đối với Trần Tuấn A về tội “trộm cắp tài sản”.

Bản kết luận định giá tài sản ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: chiếc xe môtô biển số 59Z1-410.57, đã qua sử dụng được định giá là 29.300.000đ

Ngoài ra Trần Tuấn A còn khai nhận vào ngày 27 tháng 5 năm 2019 đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone của A Phạm Trọng B tại địa chỉ B2/52A, xã Đ, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè đã đã có công văn số 207/CV-CQCSĐT-HS ngày 29/5/2019 thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ chí Minh thụ lý theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-NB ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tuấn A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Miễn xét

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số giả 70L1-63908. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai người bị hại. Phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 06h00’ ngày 22/4/2018, tại nhà số 101, ấp z, xã P, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Tuấn A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 59Z1-41057, trị giá 29.300.000đ của chị Vũ Thị B. Hành vi của bị cáo Trần Tuấn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Nhà Bè nói riêng và an toàn xã hội nói chung, nên cần xử phạt nghiêm. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma trúy, đã từng được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện lại tiếp tục tái nghiện và bị UBND phường z, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với biển số xe 70L1-63908 là biển số giả do Trần Tuấn A mua gắn vào xe đã trộm cắp, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại Samsung thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Ngoài ra Trần Tuấn A còn có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của A Phạm Trọng Bảo tại địa chỉ B2/52A, xã Đa Phước huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27/5/2019. Đối với hành vi này, Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè đã đã có công văn số 207/CV-CQCSĐT-HS ngày 29/5/2019 thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ chí Minh thụ lý theo thẩm quyền là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 31/5/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 70L1-63908. Trả lại cho bị cáo Trần Tuấn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Chí Minh theo phiếu nhập kho số NK045 ngày 11/9/2019.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ