vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Anh Q và bị cáo Nguyễn Anh T cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hồ Anh Q 18 tháng tù. Cộng với hình phạt 36 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 29/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 54 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam của bản án tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Anh Q và bị cáo Nguyễn Anh T cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HS-ST
Ngày: 28/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thông Văn Đá

2. Ông Nguyễn Anh Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2019/HSST ngày 27/5/2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HS ngày 14/6/2019 đối với các bị cáo:

1.Hồ Anh Q; Tên gọi khác: Mầm; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1992.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố B, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/3/2009, bị chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phong Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi nhiều lần trộm cắp vặt, đánh người gây thương tích, gây rối trật tự khu dân cư; Ngày 16/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Bình Thuận; Ngày 08/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức, về địa phương ngày 10/01/2015, đã được xoá án tích; Ngày 23/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 36 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” tại bản án số 29/2019/HSST, hiện đang chấp hành bản án trên. Cha: Hồ Anh Huy, sinh năm 1966 (chết); Mẹ: Lê Thị Phê, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh chị em, Q là con thứ hai; Vợ: Ngô Thị Thanh Nở, sinh năm 1992.Con: 01 người, sinh năm 2015, hiện cùng cư trú tại: khu phố Song Thanh 03, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Cơ sở giam giữ Công an huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

2. Nguyễn Anh T; Tên gọi khác: Gù; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1977.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, thị trấn C, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân Thân: Năm 1996 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 06 tháng tù về tội: “Cố ý gây gây thương tích. Năm 1997 mãn hạn tù về sống tại địa phương; Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Đua xe trái phép”; Ngày 23/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 30 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” tại bản án số 29/2019/HSST, hiện đang chấp hành bản án trên; Cha: Nguyễn Quốc, sinh năm 1939; Mẹ: Phạm Thị Mỹ Lệ, sinh năm 1942; Hiện đang cư trú tại: Thôn Hòa Thuận, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ bốn; Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã ngày 14/01/2019, hiện đang chấp hành án tại Cơ sở giam giữ Công an huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1/ Bà Lê Thị Hà– Sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn 03, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

2/ Chị Đinh Thị Bích Diễm – Sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 75C, Cao Bá Quát, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

3/ Anh Võ Khắc Huy – Sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 75C, Cao Bá Quát, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

4/Anh Phan Văn Hùng– Sinh năm 1995 Địa chỉ: Số 75C, Cao Bá Quát, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

(Các người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 21/11/2018, Hồ Anh Q và Nguyễn Anh T gặp nhau tại Ngã ba cầu Nam thuộc thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong để cùng nhau vào huyện Hàm Thuận Bắc, tìm tài sản chiếm đoạt. Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô, gắn biển số 86B2 – 092.86 chở Hồ Anh Q theo đường Quốc lộ 1A, đến khu vực thôn 3, xã Hàm Đức, rẽ sang đường Sa Ra – Tầm Hưng hướng đi Ma Lâm một đoạn, thấy nhà Lê Thị Hà, sinh năm 1959 mở cửa chính, trong nhà lúc này ngoài Lê Thị Hà còn có Đinh Thị Diễm, sinh năm 1977, Võ khắc Huy, sinh năm 1978 và Phan Văn Hùng, sinh năm 1995 cùng trú tại 75C, đường Cao Bá Quát, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là con gái, rễ và cháu ngoại đã ngủ. Nguyễn Anh T dừng xe trước vựa thanh long Tường Vy, đối diện bên kia đường, Hồ Anh Q lén lút tiếp cận phía trước nhà, mở lưới B.40 đột nhập vào bên trong, lẻn lên gian nhà trước lấy 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 6 Plus, số tiền 400.000 đồng trong túi quần của Võ Khắc Huy, 01 Điện thoại di động, hiệu Iphone 5S 16GB của Phan Văn Hùng. Hồ Anh Q vào phòng ngủ của Lê Thị Hà lấy 01 cái điện thoại, hiệu Lenovo, 01 cái điện thoại, hiệu Nokia, 01 cái máy tính, hiệu SamSung Galaxy Tab, ra nhà sau lục giỏ xách của Đinh Thị Diễm lấy số tiền 500.000 đồng và lấy ba lô đem ra ngoài cho Nguyễn Anh T lục lấy số tiền 5.500.000 đồng, rồi quay lại phòng ngủ của Lê Thị Hà tiếp tục tìm tài sản thì bị phát hiện, Hồ Anh Q nhanh chóng thoát ra ngoài để Nguyễn Anh T chở về Phan Rí Cửa. Số tiền 6.400.000 đồng chiếm đoạt được Nguyễn Anh T và Hồ Anh Q chia nhau mỗi người 3.200.000 đồng, riêng 04 điện thoại di động và 01 máy tính bảng chiếm đoạt được, Trần Anh T đem bán cho một người tên Đạo không rõ họ, tên và địa chỉ được 4.000.000 đồng, tiếp tục chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng.

Ngoài ra, trước đó vào các ngày 06/8/2018 và ngày 15/10/2018, Hồ Anh Q và Nguyễn Anh T cùng các đối tượng khác lén lút chiếm đoạt điện thoại di động của nhiều người tại các xã Hồng Liêm, Hàm Đức. Các lần phạm tội này, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố và Tòa án nhân dân huyện đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 23/4/2019, tuyên phạt Hồ Anh Q 36 tháng tù và Nguyễn Anh T 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Kết luận giám định số 1143/KLGĐ-PC09 ngày 20/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an huyện Hàm Thuận Bắc, kết luận: Dấu vết vân ngón tay ký hiệu số 06 so với vân tay in ở ô giữa trái, dấu vết vân ngón tay ký hiệu số 8 so với vân tay in ở ô nhẫn trái trên Chỉ bản vân tay mang tên Nguyễn Anh T sinh năm 1977, thường trú: Thị trấn Chợ Lầu – huyện Bắc Bình – tỉnh Bình Thuận là vân tay của cùng một người.

Kết luận định giá tài sản số 20/2019/HĐĐGTT ngày 18/02/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Hàm Thuận Bắc, kết luận:

- 01 máy tính bản, hiệu Samsung Galaxy Tab.

Giá trị mới, chưa qua sử dụng là 3.000.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 50%.

Thành tiền: 3.000.000đồng/cái x 50% = 1.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động, hiệu Lenovo.

Giá trị mới, chưa qua sử dụng là 2.700.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 30%.

Thành tiền: 2.700.000đồng/cái x 30% = 810.000 đồng.

- 01 điện thoại di động, hiệu Nokia.

Giá trị mới, chưa qua sử dụng là 400.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 30%.

Thành tiền: 400.000đồng/cái x 30% = 120.000 đồng.

- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 6 Plus.

Giá trị mới, chưa qua sử dụng là 10.990.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 60%.

Thành tiền: 10.990.000đồng/cái x 60% = 6.594.000 đồng.

- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone5S 16GB.

Giá trị mới, chưa qua sử dụng là 3.990.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 60%.

Thành tiền: 3.990.000đồng/cái x 60% = 2.340.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 11.364.000 đồng (Mười một triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ trong vụ án

- 01 xe mô tô, bị tẩy xóa số khung, số máy là vật chứng thuộc vụ án, xảy ra tại huyện Bắc Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bắc Bình xử lý .

- Đối với biển số 86B2 – 092.86 chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ, làm rõ xử lý sau.

Dân sự: Lê Thị Hà, Đinh Thị Diễm, Võ Khắc Huy và Phan Văn Hùng quá trình điều tra không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 49/CT/VKSHTB-HS ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo Hồ Anh Q và Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 01 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Hồ Anh Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù; xử phạt Nguyễn Anh T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt tại bản án số 29/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

Về vồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Hồ Anh Q bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Anh T bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự và có đơn xin xét xử vắng mặt.

[3] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Các bị cáo là công dân đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng với bản chất lười biếng, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên vào khoảng 00 giờ ngày 21/11/2018, Hồ Anh Quận và Nguyễn Anh T đã lợi dụng lúc đêm tối từ thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong điều khiển xe mô tô chở nhau vào thôn 3, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, lén lút đột nhập vào nhà Lê Thị Hà chiếm đoạt 6.400.000 đồng, 04 điện thoại di động các loại và 01 máy tính bản, trị giá 11.364.000 đồng. tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.764.000 đồng. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của công dân mà còn tạo dư luận xấu, gây mất trật tự trị an cho xã hội thực hiện với lỗi có ý.

Do vậy, Hành vi của các bị cáo Hồ Anh Q và Nguyễn Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1915 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật điều luật áp dụng là hoàn T có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Trong vụ án này cả hai bị cáo điều thống nhất với nhau về ý trí, khi quan sát thấy nhà của người bị hại không khóa cửa thì bị cáo Q vào trong lấy tài sản, bị cáo T đứng bên ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới, khi bị cáo Q lấy được tài sản thì bị cáo T là người trực tiếp cầm tiền và điện thoại đi bán để chia nhau tiêu sài nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm ngang nhau và tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Bị cáo Hồ Anh Q đang chấp hành hình phạt 36 tháng tù, bị cáo Nguyễn Anh T đang chấp hành hình phạt 30 tháng tù cùng về tội “ Trộm cắp tài sản“ tại bản án số 29/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, do vậy khi quyết định hình phạt cho các bị cáo trong vụ án này cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt của hai bản án cho các bị cáo.

[7] Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện Kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Bắc đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị cho từng bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của các bị cáo, thấy rằng hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe cải tạo giáo dục riêng và tuyên truyền phòng chống tội phạm chung.

[8] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô, bị tẩy xóa số khung, số máy là vật chứng thuộc vụ án, xảy ra tại huyện Bắc Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bắc Bình xử lý nên không xem xét trong vụ án này.

- Đối với biển số 86B2 – 092.86 chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ, làm rõ xử lý sau.

[9] Về dân sự: Người bị hại Lê Thị Hà, Phan Văn Hùng, Võ Khắc Huy và Đinh Thị Diễm tại quá trình điều tra thể hiện không yêu cầu các bị cáo bồi thường nhưng tại đơn xin xét sử vắng mặt yêu cầu giải quyết theo pháp luật. Do đó buộc các bị cáo bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt cho các người bị hại, cụ thể: Bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 2.430.000 đồng trị giá điện thoại và máy tính bảng bị chiếm đoạt; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 6.994.000 đồng là số tiền và trị giá chiếc điện thoại bị chiếm đoạt; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng số tiền 2.340.000 đồng trị giá chiếc điện thoại bị chiếm đoạt; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 6.000.000 đồng là số tiền bị chiếm đoạt. Các bị cáo chấp nhận T bộ yêu cầu bồi thường của các người bị hại và thỏa thuận mức bồi thường bằng nhau, cụ thể:

Bị cáo Q bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Bị cáo T bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Xét thấy, yêu cầu bồi thường của những người bị hại là phù hợp. Các bị cáo thỏa thuận bồi thường cho những người bị hại theo mức bằng nhau là có căn cứ không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với người tên Đạo mua điện thoại do Nguyễn Anh T bán, Cơ quan điều tra đang xác định nhân thân, lai lịch làm rõ xử lý sau.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Anh Q và bị cáo Nguyễn Anh T cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hồ Anh Q 18 tháng tù. Cộng với hình phạt 36 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 29/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 54 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam của bản án trước(19/12/2018).

Xử phạt: Nguyễn Anh T 18 tháng tù. Cộng với hình phạt 30 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 29/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt theo lệnh truy nã của bản án trước(14/01/2019).

Về vồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Hồ Anh Q bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Anh T bồi thường cho bà Lê Thị Hà số tiền 1.215.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Khắc Huy số tiền 3.497.000 đồng; bồi thường cho anh Phan Văn Hùng 1.170.000 đồng; bồi thường cho chị Đinh Thị Diễm 3.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hồ Anh Q, Nguyễn Anh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 444.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ