- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều: 51, 53, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 271,272,273 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O, TP. H N Bản án số: 48/2019/HNGĐ - ST Ngày: 24/12/2019. V/v: Tranh chấp ly hôn Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông NGUYỄN TIẾN HÙNG. Các Hội thẩm nhân dân: - Bà NGUYỄN THỊ TÍCH; - Ông LÊ HUY TRỌNG. O, Tp. H N. Bà NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM, kiểm sát viên xét xử công khai vụ án thụ lý số: 113/2019/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019 về: "Tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXX - ST ngày 19 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự: C, huyện T O, Tp. H N. huyện T O, Tp.H N. Tại phiên tòa chị H có mặt, anh C vắng mặt. | Trong ngày 24 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T O - TP. H N |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị N T H trình bày:
Năm 2009 chị và anh N M C quen biết nhau, sau một thời gian tìm hiểu thì tổ chức cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H L, huyện M S, tỉnh S L ngày 26/10/2009 trên cơ sở tự nguyện của hai bên, sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được một con chung, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn vì nhiều lý do khác nhau, vợ chồng không có được tiếng nói chung trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, từ năm 2017 đến nay vợ chồng sống ly thân, anh C bỏ về nhà đẻ, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị khởi kiện đề nghị Tòa án T O giải quyết cho được ly hôn để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là N P A, sinh ngày 23/7/2010 hiện chị đang chăm sóc, nuôi dưỡng, khi ly hôn chị có quan điểm nhận nuôi cháu và không yêu cầu anh C trợ cấp nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ và các yêu cầu khác: Chị khai nhận không có.
Sau khi thụ lý vụ án, toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh N M C không đến toà án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngày 01/11/2019 tại gia đình ông N V K là bố mẹ đẻ anh N M C cho biết: Việc Tòa án thụ lý vụ án, gửi giấy triệu tập, gửi thông báo về việc hòa giải ông và anh C đều biết, ông cũng thông báo cho anh C về những lần tòa án triệu tập nhưng anh C không bày tỏ quan điểm, không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn, lý do như thế nào thì gia đình không rõ, nay chị H có đơn ly hôn thì do pháp luật quyết định.
Về tài sản, công nợ thì anh C và chị H không có và không liên quan gì đến ông và gia đình.
Toà án tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, bản khai của chị H, niêm yết thông báo về phiên hoà giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nơi Đăng ký nhân khẩu thường trú tại UBND xã T C, nơi sinh của anh C tại Tiểu khu 16, Thị trấn H L, huyện M S, Tỉnh S L theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên anh C vẫn cố tình không đến toà án khai nhận và đưa ra quan điểm của mình, vì vậy toà án cần căn cứ vào lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết là phù hợp.
Về con chung, tài sản chung: Cần căn cứ vào lời khai của nguyên đơn làm cơ sở để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Ngày 06/12/2019 Tòa án nhân dân huyện T O đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định, tuy nhiên anh C vắng mặt nên phiên tòa phải hoãn. Sau khi niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa theo luật định, tòa án mở lại phiên tòa. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh C tiếp tục vắng mặt lần thứ hai nên việc xét xử vắng mặt anh C là đúng theo quy định tại điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N T H và anh N M C đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân UBND thị trấn H L, huyện M S, tỉnh S L ngày 26/10/2009 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được nhà nước công nhận, nay có yêu cầu ly hôn, cần áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 để giải quyết.
- Về mâu thuẫn của vợ chồng Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ lời khai nhận của chị Hậu cho thấy, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được một con chung, nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng và từ năm 2017 vợ chồng sống ly thân,không ai còn quan tên đến ai. Quá trình giải quyết anh C biết việc tòa án đang tiến hành tố tụng, tuy nhiên vẫn cố tình không khai báo, chứng tỏ việc xin đoàn tụ của vợ chồng là không có. Tại phiên tòa chị H giữ quan điểm ly hôn, xét mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận đơn xử cho chị và anh C được ly hôn là phù hợp.
- Về con chung: Theo khai nhận của chị H trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung là N P A, sinh ngày 23/7/2010 hiện đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng, khi ly hôn chị có quan điểm nhận nuôi cháu và không yêu cầu anh C trợ cấp nuôi con chung, xét yêu cầu này là phù hợp cần chấp nhận.
- Về tài sản chung, công nợ và các yêu cầu khác: N T H trình bày không có nên không xem xét trong bản án này
Đại diện VKSND huyện T O, tham gia phiên toà có quan điểm:
Từ khi nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ. Thẩm phán, thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng tư cách tham gia tố tụng, không vi phạm tố tụng.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét toàn bộ nội dung, căn cứ tài liệu đã thu thập được và trình bày của đương sự, chấp nhận yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn.
Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu N P A cho chị N T H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các điều: 51, 53, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 271,272,273 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
- Xử: Chị N T H và anh N M C được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu N P A, sinh ngày 23/7/2010 cho chị N T H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ trợ cấp nuôi con chung cho anh N M C cho đến khi các bên đương sự có yêu cầu.
Anh N M C có quyền thăm hỏi, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và công nợ và các yêu cầu khác: Không xem xét trong bản này.
- Về án phí: Chị N T H phải chịu: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 01724 ngày 10 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T O.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/12/2019. Anh N M C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tp.H N; - VKSND Huyện T O; - Các đương sự; - UBND xã T C; - UBND TT H L; - Lưu Hồ Sơ . | T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN TIẾN HÙNG |