vanban.org

Bản án 48/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp đòi bồi thường ngoài hợp đồng về sức khỏe"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/DS-PT
Ngày: 28/3/2019
V/v Đòi BTTH ngoài hợp đồng
(BTTH về sức khỏe)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Thông

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Ng c Giao

Bà Nguy n Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguy n Thị Mộng Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguy n Bạch Nga - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 21 và 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019, về việc “Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTH về sức khỏe)”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2018/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 76/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguy n Kim H, sinh năm 1974;

Địa chỉ cư trú: Số 81, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: 1. Lê Văn Đ, sinh năm 1969;

Địa chỉ cư trú: Số 80, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

2. Lê Thanh P, sinh năm 1983;

Địa chỉ cư trú: Số 79, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

- Người kháng cáo: Chị Nguy n Kim H.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).

NỘI D NG V ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Kim H trình bày:

Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do gia đình chị H và gia đình anh Đ có xảy ra tranh chấp ranh đất từ trước, vụ tranh chấp hiện đang do Tòa án huyện L giải quyết. Vào khoảng 11 giờ ngày 20 tháng 11 năm 2016, phía bên anh Đ luồng sắt vào các cây cột nhà, giáp ranh tranh chấp, nên phía gia đình chị H ra ngăn cản. Lúc đó, anh P cầm cây chang cào lúa đánh anh Lê Tấn L là chồng chị H, trúng vai trái và các ngón tay trái chảy máu, sau đó con chị H là Lê Thị M ra can ngăn thì cũng bị anh P đánh trúng hông và ngất xỉu. Cùng lúc thì cha chồng chị H là ông Lê Văn N cũng chạy ra can ngăn cũng bị anh P đánh và tiếp tục cự cãi với nhau. Cùng lúc đó, ông C là anh ông Đ cầm hai cây sắt chạy qua đâm anh L, chị H thấy vậy nên la lên, kêu em chồng tên Lê Mỹ P1 chạy ra tiếp anh L, thấy chị H la lên anh Đ cầm cục đá đến đánh vào đầu chị H. Sau đó, công an xã B đến yêu cầu những người bị đánh đi trạm xá điều trị. Công an xã B không có lập biên bản hiện trường mà yêu cầu người nhà chị H đi điều trị, sau đó sẽ xử lý sau.

Chị H được đưa đến Bệnh viện huyện L điều trị từ ngày 20/11/2016 đến ngày 23/11/2016, do thấy sức khỏe không hồi phục nên chuyển đến Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Đồng Tháp điều trị đến ngày 25/11/2016 thì xuất viện. Ngày 30/11/2016 đi tái khám tại Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Đồng Tháp. Đến ngày 06/12/2016 thì đến Bệnh Viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh kể kiểm tra sức khỏe.

Chị H xác định anh P không có đánh chị H, nên chị H rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với anh P.

Chị Nguy n Kim H yêu cầu anh Lê Văn Đ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị cụ thể như sau: Tiền chi phí điều trị là 4.925.148 đồng; tiền tổn thất ngày công lao động của người chăm sóc 8 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng là 1.600.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 65.000.000 đồng. Tổng cộng là 71.525.148 đồng.

- Bị đơn anh Lê Văn Đ và anh Lê Văn P trình bày:

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do anh Đ có nhà giáp ranh với ông Lê Văn N là cha chồng của chị H, do trước đây mẹ anh Đ là bà Cao Thị B không có yêu cầu thi hành án xuống cấm ranh đất với ông N. Năm 2016 nhà xuống cấp, Nhà nước hỗ trợ cho gia đình bà Cao Thị B là gia đình liệt sĩ số tiền 22.500.000 đồng, anh Đ tiến hành sửa nhà thì phía bên ông N ngăn cản. Ông N có khởi kiện anh Đ ra Ủy ban nhân dân xã B về việc tranh chấp ranh đất, xã hòa giải không thành, nên sự việc được chuyển đến Tòa án. Sau đó ông N rút đơn khởi kiện.

Sự việc được tiếp tục hòa giải ở xã, nhưng anh Đ không đồng ý nên tiếp tục khởi kiện tại Tòa án và hiện nay Tòa án đang thụ lý, giải quyết.

Ngày 20 tháng 11 năm 2016 lúc đó nhà ông N và nhà anh Đ cùng tổ chức l giỗ cúng cùng bà nội, phía bên ông N định kéo lưới B40 rào ngay chỗ tranh chấp, phía gia đình anh Đ không đồng ý nên xảy ra cự cãi chứ không có đánh nhau như lời trình bày của chị H. Anh Đ xác định anh không có đánh chị H như lời trình bày của chị H, sự việc cự cãi giữa hai bên có những người làm hồ chứng kiến và những người này đã được Công an huyện L lấy lời khai.

Anh Đ không đánh chị H nên không gây thương tích, nếu anh Đ có đánh chị H thì đã bị Công an xử lý hình sự, anh Đ không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị H. Trường hợp chị H chứng minh được anh Đ có đánh chị H thì Tòa án xử lý theo quy định pháp luật.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2018/DSST ngày 27/11/2018 của Tòa án huyện L đã xử:

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Nguy n Kim H đối với anh Lê Thanh P.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguy n Kim H về việc yêu cầu anh Lê Văn Đ bồi thường thiệt hại về sức khỏe, ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần.

Mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nguy n Kim H.

- Ngày 07/12/2018 chị H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 50/2018/DSST ngày 27/11/2018 của Tòa án huyện L.

- Tại phiên tòa phúc thẩm chị H phát biểu: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu anh Đ bồi thường 71.525.148 đồng.

- Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ phát biểu: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của chị H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Về đường lối xét xử, Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của chị H, sửa một phần án sơ thẩm, buộc anh Đ bồi thường cho chị H những chi phí hợp lý.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị H cho rằng giữa gia đình chị H và gia đình anh Đ có xảy ra mâu thuẫn và cự cãi với nhau, nguyên nhân phát sinh từ việc tranh chấp ranh đất. Trưa ngày 20/11/2016, khi hai bên cự cãi với nhau, anh Đ có cầm cục đá đánh vào đầu chị H dẫn đến chị phải nhập viện và điều trị vết thương.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguy n Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu anh Đ bồi thường những khoản thiệt hại gồm: Tiền chi phí điều trị là 4.925.148 đồng; tiền tổn thất ngày công lao động của người chăm sóc 08 ngày x 200.000đồng/ngày là 1.600.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 65.000.000 đồng. Tổng cộng là 71.525.148 đồng

[2] Hội đồng xét xử xét thấy:

- Chị H đưa ra người làm chứng duy nhất thấy anh Đ đánh chị H là chị Lê Thị Thùy T, chị T cho rằng anh Đ có đánh chị H, tuy nhiên tại Công an huyện L, chị T trình bày là anh Đ đánh bằng khúc tre, tại phiên tòa thì khai anh Đ đánh chị H bằng cục đá, do lời khai của chị T không thống nhất nên không đủ tin cậy.

- Theo biên bản làm việc với Phó Trưởng công an và Công an viên xã B xác định khi các anh này đến nơi xảy ra vụ việc thì không thấy các đương sự đánh nhau, mà chỉ thấy cự cãi. Vì vậy, Công an xã đã mời tất cả các đương sự về trụ sở Công an xã để làm việc. Trong quá trình làm việc do sự việc phức tạp nên công an xã đã chuyển toàn bộ hồ sơ về cho Công an huyện L để điều tra làm rõ.

- Theo các biên bản làm việc của Công an xã B và Công an huyện L, đồng thời đối chiếu các chứng cứ, tài liệu thu thập được và thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy không đủ cơ sở để xác định anh Đ có đánh chị Hoa.

[3] Đối với việc chị H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với anh P, xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện đối với anh P là tự nguyện và phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị H đối với anh P.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo của chị H là không có cơ sở để chấp nhận.

Vì các nhận định trên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của chị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Chị H được mi n án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguy n Kim H.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 584, 590 Bộ Luật dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết một phần vụ án, do chị Nguy n Kim H rút yêu cầu khởi kiện đối với anh Lê Thanh P.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguy n Kim H về việc yêu cầu anh Lê Văn Đ bồi thường thiệt hại về sức khỏe, ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần.

3. Về án phí: Chị Nguy n Kim H được mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ