vanban.org

Bản án 48/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 13/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TAND THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 48/2018/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 13/4/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Lê Thị Mỹ.

2. Ông: Nguyễn Quốc Tiến.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông: Trần Ngọc Tú – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2017/HSST ngày 27/11/2017 đối với bị cáo:

Lƣơng Văn T – Sinh năm: 1980, tại Gò Quao– Kiên Giang. Nơi

ĐKHKTT: Số 42/22B Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Số 42/22B Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn Luân và bà Chung Thị Út; Vợ; Lâm Ngọc L; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm: 2006; nhỏ nhất sinh năm: 2015; Tiền án; Chưa; Tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt ngày 14/8/2017; Bị cáo tại ngoại: Ngày 09/10/2017; Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa chỉ trên.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Những người bị hại:

1/- Cháu Cháu Lƣơng Hoàng H – Sinh năm: 2000. (Có mặt)

Trú tại: Số 42/22 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

2/- Bà Lê Ngọc H – Sinh năm: 1976. (Có mặt)

Trú tại: Số 42/22B Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

* Những người làm chứng:

1/- Ông Lƣơng Hoàng Đ – Sinh năm: 1992. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 42/22 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

2/- Ông A – Sinh năm: 1943. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 42/20 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên

Giang.

3/- Bà Lâm Ngọc L – Sinh năm: 1987. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 42/22B Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

4/- Ông Võ Minh T – Sinh năm: 1978. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 1372 Nguyễn Trung Tr , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên

Giang.

5/- Ông Nguyễn Hoàng Gi – Sinh năm: 1985. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 1368 Nguyễn Trung Tr , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên

Giang.

6/- Cháu Giảng Thanh H – Sinh năm: 2000. (Vắng mặt) Trú tại: Số 42/8 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

7/- Ông Võ Minh Ng – Sinh năm: 1988. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 1372 Nguyễn Trung Tr , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên

Giang.

8/- Cháu Lê Hồng Anh – Sinh năm: 2000. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 42 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

9/- Ông Giảng Viết L – Sinh năm: 1964. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 42/8 Ngô Thời Nh , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

10/- Bà Lý Thị Trúc L – Sinh năm: 1900. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 50 Phan Đăng L , phường An B , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các T liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 29/7/2016, Võ Minh T, Nguyễn Hoàn G và Mạnh (Chưa xác định nhân thân, địa chỉ) tổ chức uống rượu tại nhà của Lê Ngọc H, ở hẻm 42 Ngô Thời Nhiệm, phường An Bình, thành phố Rạch Giá. Do có mâu thuẫn từ trước nên Lương Hoàng H và Lương Hoàng Đ (Là cháu chồng của H) khi điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số, chạy ngang nhà H thì nẹt bô khiêu khích. Thấy vậy, H dùng lời lẽ thô tục chửi H và Đ, H và Đ cũng dừng xe lại xông đến cự cãi với H. Lúc này, H liền lấy 01 cây búa, lưỡi bằng kim loại chém trúng vào tay phải Lương Hoàng H gây thương tích. Bị chém H và Đ bỏ chạy vào Hẻm 42 khoảng 14 mét (42/22B Ngô Thời Nhiệm) đến nhà của chú ruột là Lương Văn T và la lên là bị H chém. T đang ngủ nghe la nên thức dậy và chạy ra xem có việc gì, thì thấy H và Đ lấy 01 cây dao định xông vào nhà H, nhưng được Võ Minh T ngăn lại. Lúc đó, T đi đến cự cãi với H, thì bị H dùng cây búa chém rách áo của T, nhưng chưa gây thương tích. Sau đó, H tiếp tục lấy 01 cây cuốc cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại chọi về phía T nhưng không trúng. T lấy cây 01 cây cuốc này đưa lên đánh lại H, nhưng lưỡi cây cuốc trúng vào thành cửa phía trên làm gãy lưỡi rơi xuống đất. Khi này, H khum người xuống định lượm lưỡi cuốc đánh trả lại thì bị T dùng phần cán cuốc đánh trúng vào đầu Lê Ngọc H gây thương tích. Sau khi đánh H, T vừa bước ra thì bị Nguyễn Hoàn G là cháu H đánh nhưng chưa gây thương tích. Sau đó , H và H được đưa vào Bệnh viện đa khoa Kiên Giang cấp cứu và điều trị. Đến ngày 02/8/2016, Lương Hoàng H làm đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 23/02/2017, Lương Văn T và Lê Ngọc H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố để điều tra.

* Vật chứng thu được:

- 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, cây búa có chiều dài 34cm, lưỡi búa dài 11cm, bề ngang phần lưỡi dài 9cm, bề ngang lưỡi ngắn nhất 4cm.

- 01 (một) lưỡi cuốc bằng kim loại, màu đen, chiều dài 24cm, chiều rộng 16 cm.

- 01 (một) khúc gỗ dài, vuông đầu, có chiều dài 90 cm, bề ngang mỗi mặt dài 4cm (phần cán cuốc).

- 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông không đồng dạng chiều dài 142cm, chiều rộng các mặt không bằng nhau và không đồng nhất có cạnh từ 2cm đến 4 cm, có 01 đầu tròn dài 7cm.

Bị can giao nộp: Tiền Việt Nam 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

* Tại Bản kết luận giám định thƣơng tích số 533/KL-PY, ngày 11/10/2016 của Trung tâm giám định pháp y Kiên Giang kết luận về thương tích của Lương Hoàng H như sau:

(1) Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo sơ cứng 1/3 giữa cẳng tay phải.

(2) Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 06% (Sáu phần trăm).

(3) Vật gây thương tích: Vật sắc.

(4) Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể..

* Tại Bản kết luận giám định thương tích số 532/KL-PY, ngày 11/10/2016 của Trung tâm giám định pháp y Kiên Giang kết luận về thương tích của Lê Ngọc H như sau:

(1) Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo sơ cứng vùng đỉnh phải.

(2) Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 11% (Mười một phần trăm).

(3) Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh; vật chứng số 3 (khúc gỗ) gây ra được thương tích. Vật chứng số 1 và số 2 không phù hợp với thương tích trên.

(4) Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể..

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 253/KL-PY, ngày 03/5/2017 của Trung tâm giám định pháp y Kiên Giang kết luận: Vật chứng (khúc gỗ) gửi giám định gây ra được thương tích ở vùng đỉnh phải của Lê Ngọc H.

- Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, người bị hại là anh Lương Hoàng H không yêu cầu Lê Ngọc H bồi thường tiền thuốc, điều trị và các khoản chi phí khác (Bút lục số: 85, 86). Riêng Lê Ngọc H yêu cầu Lương Văn T bồi thường 120.000.000 đồng (bao gồm tiền thuốc, điều trị 50.000.000 đồng, nhà bị hư do H phá cửa 10.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng). Lương Văn T không chấp nhận yêu cầu trên, vì H nằm viện từ ngày 29/7/2016 đến ngày 01/8/2016 xuất viện (04 ngày) nên T cho rằng yêu cầu trên không hợp lý. Do Lê Ngọc H không cung cấp được hóa đơn chứng từ, điều trị nên ngày 29/9/2017 T nộp tiền khắc phục hậu quả (bao gồm tiền thuốc, điều trị, tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng) tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.

Tại bản Cáo trạng số: 270/CT – VKSTPRG ngày 24/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Lƣơng Văn T về các tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 104 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Do có mâu thuẫn từ trước nên và o kho ảng 14 giờ , ngày 29/7/2016, Lương Hoàng H và Lương Hoàng Đ điều khiển xe mô tô (chưa xác định biển số) ngang nhà Lê Ngọc H, ở hẻm 42 Ngô Thời Nhiệm, phường An Bình, thành phố Rạch Giá thì nẹt bô nên H dùng lời lẽ thô tục chửi H và Đ. Lương Hoàng H và H cự cãi thì bị H dùng 01 cây búa, lưỡi bằng kim loại chém trúng vào tay phải H gây thương tích (qua giám định thương tật bị giảm là 6%). Sau đó, H, Đ bỏ chạy vô hẻm và la lên bị H chém thì Lương Văn T chạy ra cãi với nhau với H nên H dùng cây búa chém trúng vào áo T bị rách, chưa gây thương tích. H tiếp tục lấy 01 cây cuốc cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại ném về phía T nhưng không trúng, T lấy cây cuốc cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại này đánh H nhưng lưỡi cây cuốc trúng vào thành cửa phía làm gãy lưỡi rơi xuống đất. Khi H khum người xuống định lượm lưỡi cuốc đánh trả lại T thì bị T dùng cán cuốc đánh trúng vào đầu Lê Ngọc H gây thương tích (qua giám định thương tật bị giảm là 11%).

Chỉ vì mâu thuẫn trước đây giữa những người thân của bị cáo và H chưa được giải quyết đứt điểm nên khi có chuyện xảy ra tiếp mà 02 bị cáo không kiềm chế được dẫn đến hanh vi gây thương tích cho nhau. Lẽ ra bị cáo T và H biết kiềm chế bản thân và tìm cách giải quyết cho êm đẹp mới phải, các bị cáo lại chọn cách giải quyết mẫu thuẫn bằng con đường bạo, hậu quả như ngày hôm nay, thương tích bị cáo T gây cho H là 17% là thương tích nghiêm trọng, còn H gây thương tích cho bị hại H 6% là thương tích ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý để răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình, bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tự nguyện bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lí khác cho bị hại, là những người thân thích của nhau tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau...Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 1999, điểm b và s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 BLHS năm 2015.

* Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn T – 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng.

* Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường cho bị cáo H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mười triệu đồng) bị cáo T đã bồi thường xong. Trước đây trong quá trình điều tra gia đình bị cáo T đã nộp 10.000.000 đồng bồi thường trước cho bị hại, hiện do Chi Cục thi hành án dân sự Rạch Giá, đang tạm quản lý. Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá.Vì vậy, sau khi án có hiệu lực bị cáo H đến Chi cục nhận số tiền trên.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, cây búa có chiều dài 34cm, lưỡi búa dài 11cm, bề ngang phần lưỡi dài 9cm, bề ngang lưỡi ngắn nhất 4cm.

- 01 (một) lưỡi cuốc bằng kim loại, màu đen, chiều dài 24cm, chiều rộng 16 cm.

- 01 (một) khúc gỗ dài, vuông đầu, có chiều dài 90 cm, bề ngang mỗi mặt dài 4cm (phần cán cuốc).

- 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông không đồng dạng chiều dài 142cm, chiều rộng các mặt không bằng nhau và không đồng nhất có cạnh từ 2cm đến 4 cm, có 01 đầu tròn dài 7cm.

+ Trả cho bị cáo Lê Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) (là số tiền mà bị cáo T đã nộp để bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Lê Ngọc H).

Tất cả theo quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá.

- Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Thưa HĐXX bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi của bị cáo Lương Văn T đã phạm tội "Cố ý gây thương tích", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 104 BLHS là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đều nhận thức được rằng, tính mạng và sức khỏe của công dân là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ vì mâu thuẫn trước đây giữa những người thân cảu bị cáo T và Hăng chưa được giải quyết đứt điểm nên khi có chuyện mâu thuẫn xảy ra tiếp, mà 02 bị cáo không kiềm chế được bản thân cộng với lòng ích kỷ hẹp hòi, từ đó 02 bị cáo lại chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng con đường bạo lực, dẫn đến gây thương tích cho nhau. Đúng ra, bị cáo T và H phải biết kiềm chế và tìm cách giải quyết cho êm đẹp nhằm tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra mới phải. Hậu quả như ngày hôm nay, bị cáo T gây cho H là 17% là thương tích nghiêm trọng, bị cáo H gây thương tích cho bị hại H 6% là thương tích ít nghiêm trọng. Trong vụ án này giữa bị cáo T, H và người bị hại không phải là những người xa lạ gì nhau mà ngược lại các bị cáo và bị hại là những người thân thích của nhau (bị cáo H là chị dâu bị cáo T, còn bị hại Lương Hoàng H là cháu chồng bị cáo H...Việc các bị cáo gây thương cho nhau như trên đã làm tăng thêm sự mẫu nội bộ trong gia đình lẫn nhau, nếu không được giải quyết dứt điểm thì mâu thuẫn ngày càng làm thêm trầm trọng, hậu quả xảy ra không lường hết được.

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống người bị hại, gây khó khăn lâu dài cho bị hại sau này, mặt khác hành vi phạm tội còn gây căm phẫn bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do vậy, đứng trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra, HĐXX xét thấy hành vi pham tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải bị xử lý nghiêm mới tương xứng với tính chất hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này là cần thiết.

Tuy nhiên, đối với hành vi mà H đã gây thương tích cho bị hại Lương Hoàng H như đã nêu trên trong quá trình chuẩn bị xét xử thì bị hại Lương Hoàng H đã tự nguyện làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố và xử lý bị cáo H. HĐXX xét thấy việc tự nguyện rút làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố và xử lý bị cáo H của người bị hại H là tự nguyện không bị ai xúc giục cưỡng ép...cũng như việc rút đơn của bị hại H là phù hợp với Điều 155 BLTTHS năm 2015. Vì vậy, Tòa án ra ra quyết định đình chỉ đối với bị cáo Lê Ngọc H là phù hợp.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lí khác cho người bị hại, tại phiên tòa H xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và cho bị cáo T được hưởng án treo, bị cáo T chưa có tiền án tiền sự, là lao động làm thuê, việc mẫu thuẫn xuất phát từ nội bộ gia đình, bản thân bị cáo T có nơi cư trú rõ rằng…Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, không cần thiết bắt giam bị cáo mà giao bị cáo về địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ nghiêm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ là cũng như mức án mà Vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo như trên phù hợp như nhận định của HĐXX.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 BLDS:

- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường chi phí điều trị và các khoảng chi phí hợp lí khác cho bà Lê Ngọc H số tiền là 20.000.000 đồng (Hiện đã bồi thường xong cho bị hại)

(Do trước đây trong quá trình điều tra bị cáo T bồi thường trực tiếp 10.000.000 đồng cho bị hại H, số tiền còn lại 10.000.000 đồng bị cáo T nộp bồi thường cho bà H nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, số tiền này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Rạch Giá đang tạm quản lý. (Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá).

Vì vậy, sau khi án có hiệu lực bà H có trách nhiệm đến Chi cục Thi hành án dân sự Rạch Giá nhận số tiền trên.

* Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, cây búa có chiều dài 34cm, lưỡi búa dài 11cm, bề ngang phần lưỡi dài 9cm, bề ngang lưỡi ngắn nhất 4cm.

- 01 (một) lưỡi cuốc bằng kim loại, màu đen, chiều dài 24cm, chiều rộng 16 cm.

- 01 (một) khúc gỗ dài, vuông đầu, có chiều dài 90 cm, bề ngang mỗi mặt dài 4cm (phần cán cuốc).

- 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông không đồng dạng chiều dài 142cm, chiều rộng các mặt không bằng nhau và không đồng nhất có cạnh từ 2cm đến 4 cm, có 01 đầu tròn dài 7cm.

+ Trả cho bị cáo Lê Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) là số tiền mà bị cáo T đã nộp để bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị cáo Lê Ngọc H.

Tất cả theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015, điểm b và s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 BLHS năm 2015.

* Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn T – 09 (Chín) tháng) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Thời thử thách tính từ ngày tuyên án so thẩm.

- Giao bị cáo Lương Văn T UBND phường An Hòa, thành phố Rạch Giá giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 BLDS:

- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường chi phí điều trị và các khoảng chi phí hợp lí khác cho bà Lê Ngọc H số tiền là 20.000.000 đồng; (Hiện đã bồi thường xong cho bị hại)

(Do trước đây trong quá trình điều tra bị cáo T bồi thường trực tiếp 10.000.000 đồng cho bị hại H, số tiền còn lại 10.000.000 đồng bị cáo T nộp bồi thường cho bà H nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, số tiền này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Rạch Giá đang tạm quản lý. (Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá). Vì vậy, sau khi án có hiệu lực bà H có trách nhiệm đến Chi cục Thi hành án dân sự Rạch Giá nhận số tiền trên.

* Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, cây búa có chiều dài 34cm, lưỡi búa dài 11cm, bề ngang phần lưỡi dài 9cm, bề ngang lưỡi ngắn nhất 4cm.

- 01 (một) lưỡi cuốc bằng kim loại, màu đen, chiều dài 24cm, chiều rộng 16 cm.

- 01 (một) khúc gỗ dài, vuông đầu, có chiều dài 90 cm, bề ngang mỗi mặt dài 4cm (phần cán cuốc).

- 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông không đồng dạng chiều dài 142cm, chiều rộng các mặt không bằng nhau và không đồng nhất có cạnh từ 2cm đến 4 cm, có 01 đầu tròn dài 7cm.

+ Trả cho Lê Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) là số tiền mà bị cáo T đã nộp để bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị Lê Ngọc H.

Tất cả theo quyết định chuyển giao vật chứng số 16/QĐ-CGVC ngày 24/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố Rạch Giá

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 13/4/2018).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ