- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đăng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 48/2018/HSST Ngày: 23/4/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, TP HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Thang
2. Ông Nguyễn Tùng Mậu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh trì, TP Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên sơ cấp
Ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 52/2018/HSST ngày 06/4/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN ĐĂNG T - Sinh ngày 24/4/1989 tại Hải Phòng
ĐKHKTT: thôn 3, xã K, huyện T1, TP Hải Phòng
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Tự do
Trình độ văn hoá: 11/12
Con ông: Nguyễn Đăng T1
Con bà: Lê Thị X
Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 chị em.
- TATS: không
(Danh chỉ bản số 0060 do công an huyện T lập ngày 29/12/2017)
Bắt quả tang và tạm giữ ngày 28/12/2017, tạm giam ngày 06/01/2018
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 28/12/2017, Nguyễn Đăng T đi bộ đến khu vực đường C, xã T, huyện T, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau đó, T cầm 02 gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ trên đường C về khu vực H thì bị tổ công tác Công an đồn C kiểm tra hành chính phát hiện T đang thả 02 gói giấy màu trắng (1cm x 1,5cm) bên trong có chứa chất bột màu trắng gần chỗ T đứng. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở làm việc.
Bản kết luận giám định số 1440/KLĐG-PC54 ngày 01/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng trong 02 gói giấy là ma túy loại Hêroin có tổng trọng lượng 0,179 gam.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T không xác minh được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 04/4/2018, VKSND huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Đăng T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2017.
Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy Hêroin có tổng trọng lượng 0,179 gam (cơ quan giám định đã trích 0,017 gam; còn lại là 0,162 gam)
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Ngày 28/12/2017, tại khu vực đường C, xã T, huyện T, TP Hà Nội; Nguyễn Đăng T đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy Hêroin có tổng trọng lượng 0, 179 gam để sử dụng.
Như vậy hành vi của Nguyễn Đăng T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 - BLHS 1999. VKSND huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Ma túy là hiểm hoạ của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh dẫn đến chết người, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét các tình tiết giảm nhẹ: chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: đối với vật chứng là 02 gói ma túy Hêroin có tổng trọng lượng 0,179 gam (cơ quan giám định đã trích 0,017 gam; còn lại là 0,162 gam) là chất độc hại, Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Đăng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Áp dụng khoản 1 Điều 194 - BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
- BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt: Nguyễn Đăng T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2017.
Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015: Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy Hêroin có tổng trọng lượng 0,179 gam (cơ quan giám định đã trích 0,017 gam; còn lại là 0,162 gam), hiện đang lưu giữ tại Công an huyện T
Về án phí: áp dụng Điều 136 - BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |