- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Hoang N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? năm 1999 (Sửa đổi , bổ sung n ăm 2009).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 48/2018/HSST Ngày 11-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG
H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với Hội đồng xét xử s ơ th ẩ m gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Thạnh .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ồng Nguyễn Quang Chung .
2. Ông Nguyễn TH Dũng .
- Thư k ý phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng - Thư k ý Tòa án, Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn V ăn Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại Trung tâm văn hóa xã Phú TH, huyện TP, tỉnh ĐN, xét xử s ơ th ẩm vụ án hình sự thụ lý số
50/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa v ụ án ra xét xử số
51/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo :
Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1987 tại ĐN. Nơi đăng ký hộ khẩu th ư ờng trú: Ấp Ngọc L 3, xã Phú Xuân, huyện TP, tỉnh ĐN; chỗ ở : Ấp Ngọc
L 3, xã Phú Xuân, huyện TP, tỉ nh ĐN; nghề ng H1: Không; trình độ v ăn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt
N; con ông Nguyễn TH C (đã chết) và bà Huỳnh Thị S – sinh năm 1963; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc Tr – sinh năm: 1989 (đã ly hôn); bị cáo có 01 ngư ời con sinh năm 2009.
Tiền án : Ngày 29/5/2012 Tòa án nhân dân thành phố Biên H, tỉnh ĐN xử phạt 03 n ăm tù về tội C ư ớp giật tài sản.
Ngày 30/6/2016 Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN xử phạt 01 n ăm tù về tội Trộm cắp tài sản
.
Tiền sự: Không .
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 10 năm 2017 đến nay (có mặt).
- Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
:
1/ Anh Tô A S1, sinh năm 1977 (vắng mặt) .
Nơi cư trú: Ph ố 4, Ấp 4, xã PL, huyện ĐQ, tỉnh ĐN.
2/ Anh Phùng Anh T, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu 9, Th ị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN.
3/ Anh Phan Văn H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu 5, Th ị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN
- Ngư ời làm chứng:
1/ Anh Bùi Ngọc S2, sinh năm 1974 (vắng mặt) .
Nơi cư trú: Ấp H Đồng, xã Ngọc Định, huyện Địn h Quán, ĐN
2/ Anh S2 TH, sinh năm 1987 (vắng mặt) .
Nơi cư trú: Khu ph ố Hợp Nhất, Thị trấn
Định Quán, Định Quán, ĐN
3/ Anh Hà Trư ờng S2, sinh năm 1984 (có mặt) .
Nơi cư trú: Khu 1, Th ị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN.
4/ Anh Châu Phú H1, sinh năm 1975 (vắng mặt) .
Nơi cư trú: Khu 5, Th ị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN
5/ Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1990 (có mặt).
Nơi cư trú: T ổ 10, ấp Ngọc
L 3, xã Phú Xuân, huyện TP, tỉnh ĐN
6/ Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1963 (có mặt).
Nơi cư trú: T ổ 10, ấp Ngọc
L 3, xã Phú Xuân, huyện TP, tỉnh ĐN
7/ Chị Nguyễn Hoàng Phi Y, sinh năm 1985 (có mặt).
Nơi cư trú: T ổ 11, Khu 4, Thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 16 tháng 10 năm 2017, Tô A S1 đến khu vực đầu đư ờng be 129 thuộc địa bàn xã Phú TH, huyện TP, tỉnh ĐN để mua ma túy sử dụng. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày , Nguyễn Hoàng N điều khiển xe mô tô biển số 48F 9-1933 đến chở S1 chạy về thị trấn TP, khi đi đư ợc khoảng hơn 100m thuộc địa phận xã Phú Xuân, huyện TP, tỉnh ĐN thì bị lực l ư ợng Công an bắt và lập biên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang
đối với Nguyễn Hoàng
N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Tô A S1.
Tang vật thu giữ gồm:
- Thu giữ tr ên ngư ời Nguyễn Hoàng N gồm: Trong túi áo bên phải có 02 đoạn ống hút n ư ớc (01 màu xanh và 01 màu vàng) đư ợc hàn kín hai đầu , bên trong có chứa chất bột màu trắng ; thu trong túi quần sau bên phải số tiền 800.000đ, gồm 01 xấp tiền 300.000 đ (01 tờ tiền 100.000đ và 04 tờ tiền 50.000đ) và 01 xấp tiền 500.000 đ (01 tờ tiền 200.000 đ, 02 tờ tiền 100.000 đ và 02 tờ tiền 50.000đ) để riêng ; thu trong bóp da ở túi quần sau bên trái số tiền 6.150.000đ; 01 xe mô-tô màu trắng biển số 4 8F9-1933; 01 điện thoại di động Nokia nắp trư ợt màu đen; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen.
- Thu giữ trên ngư ời Tô A S1: 02 đoạn ống hút n ư ớc ( 01 màu xanh và 01 màu vàng) đư ợc hàn kín hai đầu , bên trong có chứa chất bột màu trắng
và 01 điện thoại di động Q.Mobile màu xanh.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hoàng
N thu giữ: 02 ống tiêm bằ ng nhựa; 02 đoạn ống hút n ư ớc ( 01 màu vàng, 01 màu xanh); 02 dao lam.
Bản kết luận giám
định số: 416/PC54 -GĐMT ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
ĐN kết luận :
- Phong bì 01: Đư ợc niêm phong còn nguyên vẹn, trên phong bì có chữ ký
của Nguyễn Hoàng N và hình dấu tròn màu đỏ Công an xã Phú Xuân , huyện TP, tỉnh ĐN. Sau khi mở niêm phong, bên trong phong bì có 02 đoạn ống nhựa hà n kín chứa chất bột màu trắng (
ký hiệu M1 ) là ma túy, có trọng l ư ợng: 0,0995gam, loại: Heroin.
- Phong bì 02: Đư ợc niêm phong còn nguyên vẹn, trên phong bì có chữ ký
của Tô A S1 và hình dấu tròn màu đỏ Công an xã Phú Xuân. Sau khi mở niêm phong, bên trong phong bì có 02 đoạn ống nhựa hà n kín chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M2) là ma túy, có trọng l ư ợng: 0,0884gam, loại: Heroin.
Toàn bộ mẫu vật
đã sử dụ ng hết trong công tác giám định nên không hoàn lại.
Cáo trạng số 48 /CT-VKS-TP ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tộ i “Mua bán trái phép chấ t ma túy” theo quy đị nh tạ i điể m b, p khoả n 2 Điề u 194 củ a Bộ luậ t Hình sự năm 1999 (Sử a đổ i, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
TP giữ nguyên quan điểm truy tố b ị cáo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Có đủ c ơ s ở truy tố , xét xử bị cáo N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho anh S1 với tình tiết định khung t ăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” quy
định tại điểm p khoản 2 Điều 194 cũa Bộ luật hình sự;
không đủ căn cứ truy tố, xét xử thêm tình tiết định khung t ăng nặng là “ Phạm tội nhiều lần”
đối với bị cáo . Căn cứ Điều 319 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
, đại diện Viện kiểm sát
đề nghị rút một phần truy tố và đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bố
bị cáo Nguyễn Hoà ng N phạm tội “Mua bán trái trái phép chát ma túy”, áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự n ăm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N mức án từ 08 (Tám) đến 09 (Chín) năm tù.
Về các biện pháp t ư pháp, đ ề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy : 02 ống tiêm bằ ng nhựa; 02 đoạn ống hút n ư ớc (01 màu vàng, 01 màu xanh ); 02 dao lam do không còn giá trị sử dụng .
- Tịch thu sung công quỹ Nhà n ư ớc số tiền bị cáo thu lợi bất chính ngày 16 tháng 10 năm 2017 là 300.000đ;
- Tịch thu phát mãi sung quỹ Nhà n ư ớc 02 điện tho ại di động của Nguyễn
Hoàng N (01 Nokia nắp tr ư ợt màu đen, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen) và 01 điện thoại di động Q.Mobile màu xanh của Tô A S1 có liên quan đến hành vi phạm tội ;
- Trả lại cho Nguyễn Hoàng
N số tiền tạm giữ 6.
650.000đ vì không liên quan đến việc phạm tội.
- Đối với c hiếc xe mô tô biển số 48F9 -1933, N dùng làm phương ti ện phạm tội, do xe không có giấy
đăng ký, Cơ quan đi ều tra đã có văn bản đề nghị xác minh làm rõ chủ sở hữu nh
ưng chưa có k ết quả. Đề nghị c ơ quan đi ều tra tiếp tục quản lý, điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Lời khai của bị cáo t rong quá trình điều tra và tại phiên tòa : Khoảng 15 giờ ngày 16/10/2017, bị cáo chở
S1 bằng xe mô tô biển số 48F9 -1933 đi từ đư ờng be cây số 129 thuộc xã Phú TH về thị trấn TP, khi chạ y đến đoạn đư ờng đối diện cây x ăng Thiên Phát Đạt thuộc xã Phú Xuân thì bị công an bắt . Kiểm tra trong ngư ời bị cáo có số tiền 6.150.000 đ trong bóp để ở túi quần
sau bên trái, trong túi quần sau bên phải có số tiền 800.000đ; 02 tép ma túy trong túi áo, 02 điện thoại di động như biên b ản bắt ng ư ời phạm tội quả tang mô tả
. Ngoài ra còn thu giữ trong ng ư ời S1 01 điện thoại di động; 02 tép ma túy. Bị cáo không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho anh
S1, anh T, anh H. Bị cáo chỉ thừa nhận hành vi tàn g trữ trái phép chất ma túy của mình.
Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám
định của Phòng kỹ thuật hình sự
Công An ĐN. Bị cáo không tranh luận và cũng không bào chữa cho hành vi của mình.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
để sớm về với gi
a đình.
Lời khai của anh Tô A S1 trong quá trình điều tra: S1 biết N vào buổi sáng ngày 16/10/2017, khi cùng với N uống thuốc cai nghiện ở
Định Quán, ĐN. Thời điểm này anh S1 có mua của N 02 tép ma túy đựng trong ống hút n ư ớc một xanh một vàng với giá 300 .000đ. Đến k hoảng 11 giờ ngày 16/10/2017 , anh S1 tiếp tục gọi
điện cho N hỏi mua ma túy và N hẹn anh lên km 124 để giao ma túy, N bán cho anh 02 tép ma túy dựng trong ống hút n ư ớc một xanh một vàng với giá 300.000 đ. Khoảng 14 giờ 00 ngày 16/10/2017 , anh tiếp tục gọi điện cho N vào số điện thoại 0963872210 để hỏi mua ma túy thì đư ợc N đồng ý và hẹn anh xuống đầu đư ờng be 129 để giao dịch, thấy anh đang đứng gần quán n ư ớc đầu đư ờng có nhiều ng ư ời ngồi nên N gọi anh lên xe và chở anh về hư ớng Thị trấn TP, trên đư ờng đi anh đưa cho N số tiền 300.000đ trong đó có một tờ 100.000đ và bốn tờ 50.000 đ gấp đôi lại, sau khi đưa ti ền cho N xong, N bỏ tiền vào túi quần sau và N đưa anh 02 tép ma túy (He ro in) đựng trong hai đoạn ống hút nư ớc hàn kín hai đầu, một đoàn màu xanh, một đoạn màu vàng thì bị Công an bắt quả tang thu giữ của anh 02 tép ma túy anh vừa mua của N và 01 điện thoại đi động. Tổng cộng anh mua ma túy của
N 03 lần, mỗi lần 300.000 đ, tổng cộng là 900.000đ.
Tại phiên tòa, a nh Hà Trư ờng S2 khai: Khoảng 14 giờ ngày 16/10/2017, anh và anh Châu Phú H1 cùng công tác ở Ban bảo vệ dân phố của Thị trấn
TP có hỗ trợ Công an TT TP theo dõi một đối t ư ợng có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy đi theo hư ớng từ cây số 125 lên Ph
ương L. Khi đi đến địa bàn xã Phú TH thì đối t ư ợng này dừng lại, k hoảng 05 đến 10 phút sau có đối t ư ợng tên N, con của bà S nhà tại xã Phú Xuân điều khiển xe mô tô đi đến chỗ đối t ư ợng nghiện đang đứng thì đối t ư ợng này lên xe của N chở đi ngư ợc về h ư ớng Thị trấn. Anh cùng mọi ng ư ời bám theo sau với khoảng cách 20m , khi đi đến khu vực cây x ăng Thiên Phát Đạt thì thấy đối t ư ợng ngồi sau cầm tiền
đưa cho đ ối tư ợng N, N lấy tiền bỏ vào túi
quần và lấy trong túi áo của N ra vật gì đưa cho đối t ư ợng ngồi sau. Lúc này tổ côn
g tác chạy lên áp sát các đối t ư ợng, N bỏ chạy thì anh trực tiếp bắt và t
hu giữ trong ng ư ời N 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bộ
t màu trắng. Đồng thời thu giữ trong tay của đối tư ợng nghiện 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng.
Lời khai của anh Châu Phú H1: Khoảng 14 giờ ngày 16/10/2017, anh và
anh Hà Trư ờng S2 hỗ trợ Công an Thị trấn TP trong việc theo dõi một đối tư ợng có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy đi theo hư ớng từ Thị trấn
TP lên hư ớng L Đồng. Đối t ư ợng nghiện đi xe ôm khi đến km 129, thuộc địa bàn xã Phú TH thì đối t ư ợng này dừng lại và
đứng một mình. Khoảng 05 phút sau có đối t ư ợng tên N, con của bà S nhà tại xã Phú Xuân điều khiển xe mô tô đi đến chỗ đối t ư ợng nghiện đang đứng thì đối t ư ợng này lên xe của N chở đi ngư ợc về h ư ớng Thị trấn
TP. Anh bám theo sau với khoảng cách 20m, khi đi đến khu vực cây x ăng Thiên Phát Đạt thì thấy đối t ư ợng ngồi sau cầm tiền
đưa cho đối t ư ợng N, N lấy tiền bỏ vào túi và thấy
N lấy trong túi áo của N ra vật gì đưa cho đ ối t ư ợn g ngồi sau. Lúc này tổ công tác chạy lên áp sát đối t ư ợng, t hu giữ trong ng ư ời N 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bê n trong chứa chất bộ màu trắng, thu giữ trong tay của đối t ư ợng nghiện 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng.
Anh Phùng Anh T khai trong quá trình điều tra: Anh và Nguyễn Hoàng N không quan hệ họ hàng, chỉ quen biết ngoài xã hội, không có mâu thuẫn gì.
Anh T bắt đầu mua ma túy của bị cáo N từ đầu tháng 10/2017. Tính đến ngày 16/10/2017 anh T mua của N khoảng 14 đến 15 lần, mỗi lần từ 1
đến 2 tép với giá mỗi tép là 100.000 đ. Mỗi lần có nhu cầu sử dụng ma túy thì
anh gọi điện cho N để mua, N sẽ hẹn địa điểm hoặc mang xuống nhà
anh tại Khu 9 để bán cho anh.
Anh Phan Văn H khai trong quá trình điều tra: Anh mua ma túy của N đư ợc 05 lần, cụ thể ngày 12/10/2017 mua của
N 02 lần mỗi lần 01 tép giá 200.000đ, lần 1 khoảng gần tr ư a lần 2 khoảng 15 giờ . Ngày 13/10/2017, anh có điện thoại cho N để mua ma túy 02 lần, một lần buổi sáng mua 02 tép 200.000
đ, buổi chi ều gọi điện m ua 02 tép 200.000đ. Ngày 14/10/2017 gọi điện cho N 02 lần buổi sáng mua 01 tép 200.000 đ, buổi chiều 02 tép 400.000 đ N giao tại nhà. Ngày 15/10/2017, gọi điện cho N 02 lần buổi sáng mua 01 tép 200.000 đ, buổi chiều 01 tép 200.000 đ, N giao tại nhà anh. Ngày 16/10/2017 gọi điện cho N mua 300.000đ khoảng tầm gần tr ưa, N chạy xuống nhà anh giao (01 tép lớn, 01 tép nhỏ) đến chiều gọi
điện thì không liên lạc đư ợc nên anh chạy xuống nhà N thì thấy N bị bắt nên anh đi về. Giữa anh và Nguyễn Hoàng N không quan hệ họ hàng, chỉ quen biết ngoài xã hội, không có mâu thuẫn g ì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, c
ăn cứ vào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử nhận
định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện TP, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện
TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo , đại diện hợp pháp của ng ư ời bị hại , ngư ời tham gia tố tụng khác
không có ngư ời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của C ơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng
đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu nào khác
và cũng không thừa nhận hành vi nh ư cáo tr ạng truy tố. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang
, sấp tiền 300.000 đ thu giữ trong ng ư ời của N; lời khai của Tô A S1 về số tiền, mệnh giá các tờ tiền
mà S1 trả cho N khi mua ma túy; lời khai của các anh Hà Tr ư ờng S2, Châu Hữu H1 và các chứng cứ khác trong hồ s ơ v ụ án có đủ c ơ s ở để Hộ i đồ ng xét xử xá c đị nh:
Ngày 29/5/2012, Nguyễn Hoàng N bị Tòa án nhân dân thành phố Biên H, tỉnh ĐN xử phạt 03 n ăm tù về tội “C ư ớp giật tài sản”, bị cáo chấp hành
hình phạt tù xong ngày 06/12/2014. Ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành
hình phạt tù xong ngày 23/02/2017. Khoảng 15 giờ ngày 16/10/2017, N có hành vi bán trái phép 02 tép ma túy cho Tô A S1 với giá 300.000đ thì bị lực l ư ợng Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Kết luận giám định số: 41 6/PC54-GĐMT ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
ĐN kết luận: 02 đoạn ống nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1) là ma túy,
có trọng l ư ợng: 0,0995gam, loại: Heroin.
Trong quá trình điều tra, a nh Phùng Anh T khai từ đầu tháng 10/2017 cho đến ngày 16/10/2017, anh đã nhiều lần mua ma túy của
N, mua khoảng 14 đến 15 lần , mỗi lần mua từ 01
đến 02 tép với giá 100.000đ/tép. Anh Phan Văn H khai từ ngày 12/10/2017 đến ngày 16/10/2017 anh mua ma túy của bị cáo N khoảng 10 lần, mỗi lần 01 tép với giá từ 100.000
đ đến 200.000 đ. Tô A S1 khai ngày 16/10/2017, anh mua ma túy của N 3 lần tại 3 địa điểm khác nhau, tổng cộng 900.000 đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận các lời khai trên và cũng kh
ông có tài liệu, chứng cứ nào khác
để chứng minh bị cáo phạm tội nhiều lần.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát
đề nghị rút một phần truy tố bị cáo về tình tiết “Phạm tội nhiều lần”, v
ì vậy, c ăn cứ vào Điều 325 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét x ử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
Như v ậy, bị cáo đã tái phạm, ch ưa đư ợc xóa án tích mà lại phạm tội do cố
ý nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm
. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
với tìn h tiết định khung t ăng nặng “ Tái phạm nguy hiểm ” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ l uật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung n ăm 2009) như c áo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có c ăn cứ.
Hành vi bán chất ma túy (Heroin) của bị cáo là nguy hiểm c ho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà n
ư ớc về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội.
Bị cáo là ng ư ời có đủ n ăng lực để nhận thức
đư ợc tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con ng
ư ời và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử d ụng ma tuý là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, bị cáo cũng biết rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nh ưng v ẫn cố tình thực hiện tội phạm.
Bị cáo đã tái phạm, ch ưa đư ợc xóa án tích m à lại phạm tội do cố ý.
Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội,
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt
nghiêm khắc tương x ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo
đã gây ra, để thể hiện sự
nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết t ăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Không có.
Về tình tiết t ăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 29/5/2012, Tòa án nhân dân thành phố B iên H, tỉnh ĐN xử phạt bị cao 03 năm tù về tội “Cư ớp giật tài sản ”. Ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản ”. Như v ậy, b ị cáo N đã tái phạm, ch ưa đư ợc xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý
nên lần p hạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, do tình tiết này đư ợc quy định là tình tiế t đị nh khung tăng nặ ng nên không đư ợc coi là tình tiết t ăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về hình ph ạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ s ơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề ng H1, thu nhập ổn định .Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt
tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung n ăm 2009).
Về các biện pháp t ư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy : 02 ống tiêm bằng nhựa, 02 đoạn ống hút n ư ớc (01 màu vàng, 01 màu xanh ), 02 dao lam không còn giá trị sử dụng .
- Tịch thu sung công quỹ Nhà n ư ớc : Số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 300.000đ;
- Tịch thu phát mãi sung quỹ Nhà n ư ớc: 0 2 điện thoại di động của Nguyễn
Hoàng N (01 Nokia nắp tr ư ợt màu đen, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen) và 01 điện thoại di động Q.Mobile màu xanh của Tô A S1, vì đây là phương ti ện tội phạm.
- Trả lạ i cho Nguyễn Hoàng N số tiền tạm giữ 6.6
50.000đ.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 48F9
-1933 Nguyễn Hoàng N dùng làm phương ti ện phạm tội, do xe không có giấy
đăng ký, Cơ quan đi ều tra đã có văn bản đề nghị xác minh làm rõ chủ sở hữu nh
ưng chưa có k ết quả. Đề nghị c ơ quan điều tra tiếp tục quản lý,
điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với mẫu gửi giám
định đã sử dụng hết trong quá trình giám
định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự s
ơ th ẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/NQ -UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc
đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp với nhậ
n định trên của Hội
đồng xét xử . Tuy nhiên cũng cần cân nhắc lại mức hình phạt
đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào:
- Điều 41, Điều 49, điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự
năm 1999 (Sửa đổi , bổ sung n ăm 2009).
- Điều 106 , 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự .
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/NQ -UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo
Nguyễn Hoàng N 07 (Bảy) n ăm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 10 năm 2017.
Về các biện pháp t ư pháp :
- Tịch thu tiêu hủy : 02 ống tiêm bằng nhựa, 02 đoạn ống hút n ư ớc (01 màu vàng, 01 màu xanh ), 02 dao lam.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà n ư ớc tiền thu lợi bất chính là 3 00.000đ (Ba trăm ngàn đồng );
- Tịch thu phát mãi sung quỹ Nhà n ư ớc 03 điện thoại di động (01 Nokia nắp tr ư ợt màu đen, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen, 01 điện thoại di động Q.Mobile màu xanh).
- Trả lại cho Nguy ễn Hoàng N số tiền 6.6 50.000đ (Sáu triệu sáu tr ăm năm chục n gàn đồng) .
(Vật chứng , số tiền 6.950 .000đ hiện đang lưu gi ữ tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện TP theo biên bản gia o nhận ngày 27 tháng 6 năm 2018 và biên lai thu tiền số 0003245 ngày 27 tháng 6 năm 2018).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn
Hoàng N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự s ơ th ẩm.
Trư ờng hợp bản án, quyết
định đư ợc thi hành theo quy tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ư ời đư ợc thi hành án, ng ư ời phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 , 7a và Điều 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ( Mư ời lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mư ời l ăm) ngày tính từ ngày nhận đư ợc bản sao bản án
hoặc bản án đư ợc niêm yết. Nơi nh ận :
| - TAND tỉnh ĐN; - VKSND tỉnh ĐN; - VKSND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Sở t ư pháp t ỉnh ĐN; - Bị cáo, ng ư ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu h ồ s ơ v ụ án, án v ăn. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Thạnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |