- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48 /2018/HS-ST Ngày: 02/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Hải
2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2018/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh L, sinh năm 1995 tại Tiền Giang; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 312273XXX; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn C; Con bà: Nguyễn Thị Ngọc M; Vợ: Đặng Thị C; Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Minh L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Người bị hại: Đặng Văn L, sinh năm 1958 (đã chết). Nơi cư trú: Khu phố E, Phường Z, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện hợp pháp cho bị hai: Võ Thị H, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Khu phố E, Phường Z, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. 1958 ( có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh L được Sở giao thông vận tải tỉnh Tiền Giang cấp giấy phép lái xe hạng A1 có giá trị không thời hạn.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/7/2018, sau khi đã có uống bia. Nguyễn Minh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 63K6-2150 lưu thông trên đường huyện lộ 53 hướng Quốc lộ 1A đi Ủy ban nhân dân xã Tân Hội, khi đến đoạn thuộc Khu phố E, Phường Z, thị xã C, tỉnh Tiền Giang L nhìn thấy ông Đặng Văn L, sinh năm 1958, đăng ký thường trú: Khu phố E, Phường Z, thị xã C, tỉnh Tiền Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 55X7 - 6644 chạy theo chiều ngược lai. Theo L khai, ông L cho xe chạy lấn qua phần đường xe của L. L cho xe mô tô 63K6-2150 chạy qua phần đường bên trái để tránh xe mô tô 55X7 - 6644, ông L cho xe chạy trở lại phần đường của mình. Từ đó hai xe chạm vào nhau gây tai nạn. Hậu quả, Nguyễn Minh L bị thương nặng, ông Đặng Văn L được đưa đi cấp cứu đến ngày 21/7/2017 thì tử vong.
Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 15 giờ ngày 19/7/2017, hiện trường được xác định như sau:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc huyện lộ 53 có kết cấu nhựa, có kích thước 04m, đường thẳng, không có vạch kẻ đường chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt.
Chọn hướng Ủy ban nhân dân xã Tân Hội đi quốc lộ 1A làm hướng chuẩn. Lấy trụ điện số 2 bên phải hướng chuẩn làm điểm chuẩn. Chọn mép đường nhựa bên phải hướng chuẩn để đo đạt vị trí dấu vết và phương tiện. Đánh số thứ tự dấu vết:
(1) Vị trí trụ điện số 2 đo đến (2) Vị trí xe mô tô 55X7-6644 (xe đứng) theo đường thẳng vuông gốc là 14 m. (2) đầu xe hướng về quốc lộ 1A chếch sang phải hướng chuẩn, đuôi xe hướng về Tân Hội chếch sang trái hướng chuẩn. Trục bánh trước cách vào mép đường nhựa là 0m90, trục bánh sau cách vào mép đường 1m40. Từ (2) cách (3) Vị trí điểm đụng của 02 xe mô tô 0m10. Tâm điểm đụng cách vào đường nhựa 1m26, (3) cách (4) Vị trí xe mô tô 63K6-2150 (xe đứng) là 0m40. (4) đầu xe hướng về xã Tân Hội, đuôi xe hướng về quốc lộ 1A trục bánh trước cách vào mép đường 1m26, trục bánh sau cánh vào mép đường là 1m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện do Công an thị xã Cai Lậy tiến hành ngày 19/7/2017 xác định:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 63K6-2150:
Cụm đầu đèn lái của xe bung hở.
Mặt nạ, chắn bùn trước bể vỡ.
Bánh trước có nhiều thanh căm đứt, gãy.
Vành niền trước cong vênh.
Mặt ngoài chếch về phía trước khu vực chân phuộc trước bên trái có vết mòn, dẹt (4 x 2,5 cm).
Mặt ngoài phía trước nắp đậy dây sên cam đầu máy có vết trầy xước lẫn chất mày đen (4 x 1,5 cm).
Bát chân cách bửng bên trái cong quặch vào trong.
Mặt trước nắp máy bên trái bể vỡ, mất một khoảng mặt trước (13 x 4 cm).
Cần số cong vênh.
Ốp thân xe bên trái khu vực phía trước đoạn tiếp xúc với động cơ có vết nứt bể, mặt ngoài khu vực này có dính sơn màu đỏ (14 x 6 cm).
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 55X7 – 6644:
Choá đèn chiếu sáng phía trước bể vỡ, bên trong lòng choá đèn có dính nhiều chất màu đỏ nghi là máu, mặt ngoài khu vực bể vỡ có dính nhiều chất màu xanh.
Mặt ngoài bên trái mặt nạ có dính chất sơn màu xanh (24 x 12 cm); mặt nạ có nhiều vết bể vỡ và có dính nhiều chất màu đỏ nghi là máu (7 x 2,5 cm).
Bửng xe hai bên bể vỡ, đứt gãy.
Ốp phuộc trước bên trái khu vực bát đỡ ba ga trước có dính chất sơn màu xanh, vùng vết sơn (7 x 5 cm).
Mặt ngoài thanh đỡ bên trái ba ga trước có dính chất sơn màu xanh, vùng chất sơn kéo dài từ đuôi thanh đỡ lên đầu thanh đỡ dài 15 cm.
Chắn bùn trước nứt bể dọc theo sóng đứng bên trên của đầu chắn bùn.
Vách niền khu vực đối diện với vòi đứt mất một đoạn dài 21 cm.
Vỏ xe cạnh hong vỏ trước bên phải khu vực đối diện với vòi xe bị thủng tét, vết thủng tét (5 x 3 cm).
Đoạn ruột khu vực vành niền bị đứt gãy có nhiều vết thủng.
Bánh xe trước kẹt cứng, không xê dịch được.
Hệ thống phuộc trước cong vênh.
Bắt thắng trước đứt gãy khỏi má phanh; mặt ngoài cạnh trước tán đùm trước bên trái có vết trầy xước, mòn dẹt (0,5 x 0,5 cm).
Cạnh ngoài sóng chữ A phuộc trước bên trái có vết trầy xước hình răng (1 x 0,3 cm).
Cần số cong vênh theo chiều hướng từ trước ra sau.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 127/PY – PC54 ngày 30/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: ông Đặng Văn L chết do tụ máu dưới màng cứng. Tụ máu dưới nhện bán cầu đại não phải ở nạn nhân tai nạn giao thông.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 19/7/2018 đối với ông Đặng Văn L định lượng Etanol (còn, máu) là 172mg/100ml.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 19/7/2018 đối với bị can Nguyễn Minh L định lượng Etanol (còn, máu) là 160mg/100ml.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy thu giữ vật chứng trong vụ án gồm:
- 01 xe mô tô, nhãn hiệu: SEEYES, màu sơn: Đỏ, biển số 55x7-6644, số loại: SYS100, số khung: VH81-021874, số máy: FMG-284874.
- Giấy phép lái xe hạng A1 cấp cho Đặng Văn L.
- 01 xe mô tô, nhãn hiệu: WAVE, màu sơn: Xanh, biển số 63K6-2150, loại xe: Nữ.
- Giấy phép lái xe hạng A1 cấp cho Nguyễn Minh L.
Ngày 10/4/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả: 01 xe mô tô biển số 55x7-6644 cho chủ sở hữu là bà Võ Thị H; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 004148 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 0968632 mang tên Đặng Văn L. Trao trả 01 xe mô tô biển số 63K6-2150 cho bà Nguyễn Thị Ngọc M.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Minh L đã bồi thường 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Gia đình ông Đặng Văn L làm đơn bãi nại trách nhiệm dân sự cho bị can Nguyễn Minh L.
Lỗi trong vụ tai nạn được xác định do Nguyễn Minh L điều khiển xe mô tô khi trong người có nồng độ cồn trong máu đạt 160 mg/100 mililít máu, điều khiển xe đi không đúng phần đường và tránh xe ngược chiều không đúng quy định. Vi phạm khoản 8, Điều 8, Khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Cáo trạng số 46 ngày 13 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Minh L phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” xử phạt bị cáo L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Giấy phép lái xe thì tuyên trả lại cho bị cáo.
- Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh L nhận tội và khai nhận hành vi của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo L đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/7/2018, sau khi đã có uống bia trong người, nồng độ cồn trong máu đạt 160mg/100 milili1t máu. Nguyễn Minh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 63K6-2150 lưu thông trên đường huyện lộ 53 hướng Quốc lộ 1A đi Ủy ban nhân dân xã Tân Hội. Do điều khiển xe không đúng phần đường để xảy ra tai nạn làm ông Đặng Văn L chết. Cho nên có đủ cở sở quy kết bị cáo đã phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Bởi lẽ, xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật quy định mọi người khi tham gia điều khiển phương tiện phải nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ. Đối với bị cáo khi điều khiển xe mô tô biển số 63K6-2150 lại uống bia có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định, từ đó không làm chủ được tay lái, cho xe đi không đúng phần đường và tránh xe ngược chiều không đúng quy định nên để xe của bị cáo đụng vào xe của ông Đặng Văn L đang chạy chiều ngược lại xảy ra tai nạn hậu quả làm ông L chết. Do đó bị cáo đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8, khoảng 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Cho nên phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự quá trình điều tra, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục xong hậu quả, đại diện gia đình người bị hại có đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi do bị cáo Luận thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy đáng lý ra cần phải được xử lý nghiêm khắc nhưng do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, vụ án xảy ra phía người bị hại cũng có phần lỗi do khi điều khiển xe mô tô mà có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định. Cho nên không cần thiết phải cách lý ra khỏi xã hội mà giao bị cáo về cho địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tại bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe hạng A1 cấp cho Nguyễn Minh L hiện đang tạm giữ nghĩ tuyên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ án bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 100.000.000đ, đại diện cho gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt giải quyết.
Đối với lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án và chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khỏan 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh L 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách lá 05 năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Minh L.
3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thị Ngọc M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Võ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy; - CAND Thị xã Cai Lậy; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa MAI VĂN HÙNG CƯỜNG |