- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị V xin ly hôn Trần Văn C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Đinh Thị V được ly hôn với anh Trần Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:48/2018/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 9 – 2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Thái
2. Ông Lục Văn Khai
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2018 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2018/QĐXX - ST ngày 20 tháng 8 năm 2018 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 28/TB-TA ngày 07 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị V sinh năm 1992. Vắng mặt
Nơi cư trú: Đội 5, thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. (Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Văn C – sinh năm 1987. Vắng mặt
Nơi cư trú: Đội 5, thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đinh Thị V trình bày:
Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn C trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 11-4-2011 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hai bên đã tự hòa giải để khắc phục tình cảm vợ chồng chồng nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 2-2018, vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh C không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 19-7-2011 và Trần Đình C, sinh ngày 26-8-2016. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các cháu cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Trần Văn C không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Kết quả xác minh qua gia đình anh Trần Văn C cho thấy: Chị Đinh Thị V và anh Trần Văn C kết hôn năm 2011, sau khi kết hôn chung sống cùng với gia đình nhà chồng, đến năm 2017 chị Vui có yêu cầu ly hôn với anh C, gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không được, anh chị đã sống ly thân. Chị V và anh C có 02 con chung là Trần Thị Ngọc A và Trần Văn C, hiện nay các cháu do chị V trực tiếp nuôi dưỡng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được bảo đảm đúng quy định của pháp luật, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị V để xử cho chị V được ly hôn với anh Trần Văn C. Về nuôi con chung: Giao hai con chung cho chị Vtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi, anh Ckhông phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị V phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn - Anh Trần Văn C có hộ khẩu thường trú tại đội 5, thôn G, huyện Yên Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự
Chị Đinh Thị V và anh Trần Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, chị Đinh Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị V và anh Trần Văn C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 11-4-2011. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị V xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh chị đã tự hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh C đã sống ly thân từ tháng 2/2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Thực tế tình trạng hôn nhân của chị Vui và anh C đã được gia đình anh C xác nhận. Từ đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Đinh Thị V và anh Trần Văn C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh C không có mặt, thể hiện anh C không có thiện chí hòa giải. Yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị V là chính đáng và có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Đinh Thị V được ly hôn anh Trần Văn C.
Về nuôi con chung: Chị V và anh C có hai con chung là Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 19-7-2011 và Trần Đình C, sinh ngày 26-8-2016. Hiện nay, các cháu do chị V tiếp nuôi dưỡng. Chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các cháu cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Xét nguyện vọng của chị V là chính đáng, có căn cứ, phù hợp với thực tế và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Mặt khác, anh C không có thiện chí và không hợp tác, không có ý kiến về phần con chung nên cần giao hai con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Chị Đinh Thị V được ly hôn với anh Trần Văn C.
2. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Thị Ngọc A, sinh ngày 19-7-2011 và Trần Đình C, sinh ngày 26-8-2016 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh C không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đinh Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0001860 ngày 15-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình (Chị V đã nộp đủ án phí ).
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tØnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyÖn Yªn B×nh;
(đã ký)
- THA d©n sù huyÖn Yªn B×nh;
- C¸c ®−¬ng sù;
- UBND xã Mông Sơn, huyện Yên Bình ;
- L−u HS,TA.
Lê Thị Thanh Nga
| Nơi nhận: - TAND tØnh; - VKSND huyÖn Yªn B×nh; - THA d©n sù huyÖn Yªn B×nh; - C¸c ®−¬ng sù; - UBND xã Mông Sơn, huyện Yên Bình ; - L−u HS,TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Thanh Nga |