- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thúy K ly hôn vơia anh Anh Trần Văn M"
- Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Trần Văn M được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2018/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 11năm 2018 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Ngọc Ảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Lương Thị Hải;
2.Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dânhuyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòatham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 315/2018/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2018, về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy K - sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn M - sinh năm 1987; trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 24.7.2018, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy Kiềutrình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Trần Văn M tự nguyện kết hôn, cưới nhau năm 2015, đăng ký kết hôn số 28/2015, quyển I/2015 ngày 08 tháng 5 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, đến tháng 8 năm 2016 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng gay gắt cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, thường xuyên kình cải, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không tin tưởng tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay vợ chồng không sống chung với nhau, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Nay chị K thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng. Chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu Tòa án giải quyết: Cho chị K được ly hôn với anh Trần Văn M.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Trần Văn M để lấy lời khai nhưng anh Trần Văn M đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Toà án, nên Toà án không lấy được lời khai của anh M, không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn M ở Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểu a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Anh Trần Văn M là bị đơn đã đượcTòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn M. [2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù không lấy được lời khai của bị đơn là anh Trần Văn M và tại phiên toà vắng mặt bị đơn lần thứ 2, nhưng theo lời khai của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thúy K thì chị K và anh M kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 5 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Trần Văn M là hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị K và tại phiên tòa hôm nay thì Tòa thấy vợ chồng chị K, anh M thực tế không sống chung với nhau, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, giữa chị K và anh M đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai người không tìm được phương pháp nào để tiếp tục sống chung với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc ly hôn giữa hai người nhưng anh M đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị K, anh M đã mâu thuẫn gay gắt và anh M không còn quan tâm gì về cuộc hôn nhân này nữa. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị K được ly hôn với anh Trần Văn M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị K.
Về con chung:Chị Nguyễn Thị Thúy K xác nhận vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thúy K xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.
+ Nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy K xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.
Bị đơn anh Trần Văn M mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc kiện của nguyên đơn và cũng không hoà giải được vụ án.Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh Trần Văn M.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1 - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Trần Văn M được ly hôn.
2 - Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
3 - Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
4 - Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0014344 ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. 5 - Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Vạn Ninh ; - Chi cục THA huyện Vạn Ninh; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương; - Các đương sự; - Hồ sơ vụ án; - Lưu: VT, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Ảnh |