- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trương Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 48/2018/HNGĐ-ST Ngày : 29/3/2018 V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà; Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà; Phạm Thị Mai và ông Nguyễn Doãn Ước
- Thư ký phiên toà: Ông; Nguyễn Bá Anh
Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2017/TLST- HNGĐ ngày 13/12/2017, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXX-ST, ngày 16/3/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị; Trương Tuyết M, sinh năm 1991. Có mặt
Địa chỉ: Khối 7, Thị trấn KS, huyện QP, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh; Nguyễn Văn C, sinh năm 1986. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Sơn Thịnh, xã PT, huyện TC, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trương Tuyết M trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trương Tuyết M kết hôn với anh Nguyễn Văn C vào ngày 22/11/2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn KS, huyện QP, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng thuê nhà và sinh sống tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người sống với nhau tình cảm bình thường, do lúc đó hai người chưa có việc làm ổn định, nên anh C phải đi làm ở nhà hàng, đến tháng 5/2014 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, đến tháng 7/2017 thì chị Trương Tuyết M xin được việc làm ở Liên đoàn lao động huyện YT, tỉnh Nghệ An và cũng từ đó hai người sống ly thân với nhau, chị M làm việc ở huyện YT và về ngoại ở huyện QP sinh sống, còn anh C thì về quê nội sống. Nay chị Trương Tuyết M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nguyện vọng xin được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung, tên là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 13/02/2013, từ khi vợ chồng sống ly thân, con do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị Trương Tuyết M xin có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Chị Trương Tuyết M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn C đến Tòa án để làm việc công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như xét xử, song anh Nguyễn Văn C đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến : Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Trương Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn C; giao cháu Nguyễn Văn Q cho chị Trương Tuyết M trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn C; về tài sản không xem xét; chị Trương Tuyết M phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như việc xét xử, song anh Nguyễn Văn C đều nhiều lần vắng mặt, nên Tòa án không thể công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn C đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét hợp lệ, song vẫn vắng mặt tại phiên tòa.
Cuộc hôn nhân giữa chị Trương Tuyết M và anh Nguyễn Văn C, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 22/11/2012 tại UBND Thị trấn KS, huyện QP, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người sống với nhau tình cảm bình thường cho đến tháng 5/2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống với nhau tính tình không hợp, hơn nữa cũng do hai người chưa có việc làm ổn định, nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, đến tháng 7/2017 thì chị Trương Tuyết M xin được việc làm ở huyện YT, tỉnh Nghệ An, nên hai người sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án cũng triệu tập nhiều lần để hòa giải, Chị Trương Tuyết M thì nhất quyết xin ly hôn, anh Nguyễn Văn C thì đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay chị Trương Tuyết M một mực xin được ly hôn, còn anh Nguyễn Văn C lại tiếp tục vắng mặt. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Trương Tuyết M, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho chị Trương Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
Về trách nhiệm nuôi con: Hai người có một con chung tên là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 13/02/2013, ly hôn chị Trương Tuyết M xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng, xét thấy cháu Nguyễn Văn Q còn nhỏ và đang do chị M trực tiếp nuôi dưỡng, nên cần thiết giao cháu Nguyễn Văn Q cho chị Trương Tuyết M trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn C là phù hợp.
Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.
Về án phí: Chị Trương Tuyết M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Trương Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 13/02/2013 cho chị Trương Tuyết M, trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn C.
Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Chị Trương Tuyết M
: 300
( Ba trăm ngàn đồng
. Chị Trương Tuyết M,
300
( Ba trăm ngàn đồng )
án
chị
heo biên lai 0001210
13/12/2017
, tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự - UBND Thị trấn KS - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Cảnh Phạm Thị Mai i nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự - UBND xã Thanh Lương - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Trọng Sơn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn |