- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGuyễn Thị P xin ly hôn Trần Quang Minh Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P, cho bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2018/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2018 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị Phúc.
2. Bà Triệu Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lan Anh– Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2018/TLST–HNGĐ ngày 26/3/2018 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1998.
Trú tại: Số 8/14 thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Trần Quang Minh Đ, sinh năm 1995.
Trú tại: Tổ 1, thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Tại phiên tòa, bà P có mặt, ông Đ vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đ kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Khi vợ chồng tranh cãi thì xảy ra xô xát. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin ly hôn với ông Trần Quang Minh Đ.
Về con chung: Bà và ông Trần Quang Minh Đ có 01 con chung tên Trần An Thiên Nh, sinh ngày 17/11/2016. Hiện nay cháu Nh đang sống cùng với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được quyền nuôi cháu Nh cho đến ngày cháu Nh thành niên.
Về cấp dưỡng: Bà yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 23/8/2018 cho đến ngày con chung thành niên.
Về tài sản chung: Bà và ông Trần Quang Minh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Bà và ông Trần Quang Minh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Quang Minh Đ dù đã nhiều lần được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng ông Đ vắng mặt, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cũng không cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.
Quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Thị P giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm có: 01 giấy chứng nhận kết hôn (bản sao), 01 chứng minh nhân dân của bà P (bản sao), 01 sổ hộ khẩu gia đình (bản sao), 01 giấy khai sinh con chung (bản sao), 01 bản tự khai của bà P; bị đơn ông Trần Quang Minh Đ không giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ nào; Các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được gồm có: 01 biên bản xác minh ngày 04/7/2018 (bản chính).
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông Đ và đã thông báo kết quả phiên họp cho ông Đ được biết. Do ông Đ vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán chấp hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng người tham gia tố tụng, tống đạt các giấy tờ cho đương sự đúng theo quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa chấp hành đầy đủ các quy định của luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P, xử cho bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ được ly hôn; Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Trần An Thiên Nh cho bà Nguyễn Thị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày các con chung thành niên; Về cấp dưỡng: Buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 22/8/2018 cho đến ngày con chung thành niên; Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 02 dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ là hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã H. Quá trình vợ chồng chung sống theo bà P trình bày thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi tranh cãi thì vợ chồng xô xát lẫn nhau. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quang Minh Đ. Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của bà P và ông Đ, kết quả xác minh cho thấy: ông Đ và bà P không còn chung sống với nhau được thời gian dài. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà P và ông Đ đã trầm trọng, ông bà không còn chung sống với nhau, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không Đ được nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc xin ly hôn với ông Trần Quang Minh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ có 01 con chung tên Trần An Thiên Nh, sinh ngày 17/11/2016. Hiện nay cháu Nh đang sống với bà P. Bà P yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nh cho đến ngày cháu Nh thành niên. Xét thấy, cháu Nh dưới 36 tháng tuổi, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…” nên giao cháu Nh cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là đảm bảo điều kiện tốt nhất để cháu phát triển bình thường về mặt thể chất và tinh thần.
Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bà P thay đổi yêu cầu mức cấp dưỡng, bà P yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 23/8/2018 cho đến ngày con chung thành niên. Xét thấy, ông Đ không trực tiếp nuôi con nên phải cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên qua xem xét về khả năng thu nhập của ông Đ không ổn định nên buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo mức lương tối thiểu 1.390.000 đồng/tháng là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của ông Đ.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông Đ tự thỏa thuận, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét;
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
Buộc ông Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P, cho bà Nguyễn Thị P và ông Trần Quang Minh Đ được ly hôn.
2. Về con chung: Giao các cháu Trần An Thiên Nh, sinh ngày 17/11/2016 cho bà Nguyễn Thị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày cháu Nh thành niên.
3. Về cấp dưỡng: Buộc ông Trần Quang Minh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Trần An Thiên Nh 1.390.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2018 cho đến ngày con chung thành niên.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lại thu số AA/2015/0007406 ngày 26/3/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ. Bà P đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Buộc ông Trần Quang Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Bà P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS huyện Đ; - THADS huyện Đ; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; - Lưu AV, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Anh Tuấn |