vanban.org

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm và anh Nguyễn Mạnh Cường.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm và anh Nguyễn Mạnh Cường.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13 tháng 8 năm 2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vượng.

2. Bà Phạm Thị Thư

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Hoàng Văn Đĩnh-Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/6/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXX-ST ngày 13/7/2018 và Quyết định hoãn số: 36/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2018 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thắm, sinh năm 1991. Địa chỉ số nhà 57, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

+ Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh Cường, sinh năm 1992. Địa chỉ số nhà 57, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 29/5/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thắm trình bày:

Chị với anh Nguyễn Mạnh Cường đăng ký kết hôn với nhau ngày 17/3/2011 tại UBND phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểm và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh Cường ngay tại số nhà 57, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị ở với gia đình nhà chồng được khoảng 02 tháng thì vợ chồng ra ở riêng và thuê nhà trọ ở nhiều nơi trong thành phố Bắc Giang. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Cường không tu trí làm ăn, lại thường xuyên rượu say đánh chửi chị. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn Cầu Ván, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và ly thân với anh Cường được hơn 2 năm rồi. Nay chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Cường.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, cháu tên là Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011, hiện nay cháu đang ở cùng với anh Cường, khi ly hôn chị đề nghị được nuôi con chung vì cháu còn quá nhỏ, anh Cường lại không có nghề nghiệp, không có thu nhập để đảm bảo nuôi con. Hiện nay chị nhận may gia công tại nhà với thu nhập hàng tháng khoảng 5.000.000 đồng nên đảm bảo cho việc nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản công nợ chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Chị Thắm làm dâu nhà anh Cường được khoảng 02 tháng nhưng chị không đề nghị trích chia công sức đóng góp.

Bị đơn anh Nguyễn Mạnh Cường vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Cường.

Anh Cường đã nhận được thông báo thụ lý, giấy triệu tập đương sự, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Cường không đến phiên tòa. Tòa án ra quyết định yêu cầu anh Cường cung cấp tài liệu, chứng cứ là văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Cường nhận được nhưng không cung cấp cho Tòa án. Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị Thứ là mẹ đẻ của chị Thắm cho biết: Chị Thắm và anh Cường kết hôn với nhau tháng 3/2011. Trước khi kết hôn chị và anh Cường có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh Cường ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, cho đến năm 2015 do mâu thuẫn vợ chồng, chị Thắm đã về nhà ở với gia đình nhà tôi từ đó cho đến nay không quay về chung sống cùng anh Cường nữa. Bản thân tôi được biết vợ chồng chị Thắm, anh Cường chung sống với nhau hay xảy ra cãi vã nhau và anh Cường còn đánh đập chị Thắm nhưng chị Thắm vẫn cam chịu vì phải chăm con nhỏ. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Thắm và anh Cường không còn thương yêu nhau. Việc chị Thắm làm đơn xin ly hôn anh Cường thì tôi không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà hôm nay, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và vắng mặt tại phiên tòa đã không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Cần chấp nhận ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm và anh Nguyễn Mạnh Cường.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Thắm phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Cường đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 31/7/2018, nhưng anh Cường vắng mặt không đến phiên tòa. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa và ấn định lịch phiên tòa vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 13/8/2018 và giao quyết định này cho anh Cường. Tại phiên tòa hôm nay anh Cường là bị đơn không có phản tố, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Đây là lần thứ hai anh Cường vắng mặt không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Cường.

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Cường và chị Thắm kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn và cưới hỏi theo phong tục địa phương nên quan hệ hôn nhân giữa anh Cường và chị Thắm là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng về quan điểm sống (chị Thắm cho rằng anh Cường không chịu tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con lại hay đánh đập chị) dẫn tới việc cuối năm 2015 chị Thắm về nhà bố mẹ đẻ của chị ở tại địa chỉ Thôn Cầu Ván, xã Dương Đức, huyện Lang Giang, tỉnh Bắc Giang, hai người sống ly thân với nhau từ đó, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần xử cho Nguyễn Thị Thắm được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Cường (theo Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình 2014).

+ Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011, hiện nay cháu đang ở cùng với anh Cường. Chị Thắm có yêu cầu trực tiếp nuôi con. Xét về điều kiện kinh tế và thu nhập thì chị Thắm có công ăn việc làm ổn định, đảm bảo để nuôi con. Anh Cường không có công ăn việc làm ổn định nên không đảm bảo cho việc nuôi con. Hiện cháu Nguyễn Đức Anh đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Nguyễn Đức Anh nên cần giao cho chị Thắm trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, công nợ chung: chị Thắm và anh Cường không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Thắm phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm và anh Nguyễn Mạnh Cường.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thắm phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Thắm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/06795 ngày 04/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận chị Thắm đã nộp 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thắm được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Mạnh Cường được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ