- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2017/HSST Ngày: 25/7/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hà và bà Trần Thị Hoa.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25/7/2017, tại trụ sở Nhà văn hóa KDC Thái Học 1, phƣờng Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 06/7/2017 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Nhật L; sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã L, huyện, Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Đỗ Văn T; con bà: Bùi Thị Y; có 4 con: Lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2017 đến ngày 04/7/2017 chuyển tạm giam tại Trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (Có mặt tại phiên toà).
2. Bùi Văn Đ; sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã L, huyện, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Bùi Huy T; con bà: Ngô Thị X; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2017 đến ngày 04/6/2017 chuyển tạm giam tại Trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (Có mặt tại phiên toà).
NHẬN THẤY:
Các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Chiều ngày 01/6/2017, khi Đỗ Nhật L đang ở nhà tại thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng thì Bùi Văn Đ là anh họ L đến chơi. L mang ma túy ra và cùng Đ sử dụng. Sau khi sử dụng xong, L nói với Đ: “Anh ơi, tối đƣa em sang xã T để lấy ma túy đá về chơi tiếp”, Đ đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô BKS 34L1 - 3195 (xe L mƣợn của bà Bùi Thị Y là mẹ đẻ L. Khi cho mƣợn xe, bà Y không biết L mƣợn để đi mua ma túy) chở L đi từ nhà sang xã T, thị xã C để mua ma túy đá. Theo sự chỉ dẫn của L, Đ điều khiển xe đi đến khu vực gần ngã tƣ G, xã T, thị xã C và vào quán ngồi uống nƣớc. Trong khi ngồi uống nƣớc, L bảo Đ ngồi chờ để L đi ra lấy ma túy đá. Sau đó L đi bộ ra ngã tƣ G cạnh Quốc Lộ 37. Tại đây L gặp và mua ma túy đá của một ngƣời thanh niên không rõ tên tuổi và địa chỉ với giá 3.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của L ngƣời thanh niên này nói với L ma túy đƣợc giấu tại lỗ cột điện gần trƣờng THCS xã Đ. L chỉ dẫn Đ đi theo lối thôn T, xã Đ, thị xã C. Khi Đ điều khiển xe máy chở L đi đến trƣờng THCS xã Đ thì L nói Đ đỗ lại và dừng ở cây cột điện phía trƣớc ven đƣờng. L xuống xe và lấy 01 túi nilon màu trắng trong chứa ma túy đá trên lỗ của cây cột điện. Lấy đƣợc ma túy đá, L cầm trong lòng bàn tay rồi lên xe Đ chở về. Khi đến bến đò V thuộc thôn M, xã T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng thì bị lực lƣợng Công an phát hiện bắt quả tang. Thấy lực lƣợng Công an bắt giữ, L đã vứt từ tay xuống đất ngay dƣới chân L đứng 01 túi nilon kích thƣớc 5,5x04cm trong chứa một túi nilon kích thƣớc 2,5x03cm bên trong 02 túi nilon đều có chứa chất ma túy đá. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon kích thƣớc 5,5x04cm trong chứa một túi nilon kích thƣớc 2,5x03cm, bên trong 02 túi nilon trên đều có chứa chất ma túy dƣới đất ngay cạnh chân của Đỗ Nhật L.
Tại Kết luận giám định số 2803/C54(TT2) ngày 22/6/2017, Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát - Bộ Công an kết luận: Tinh thể màu trắng, dạng cục trong 02 túi nilon gửi đến giám định có tổng trọng lƣợng là 4,390 gam, đều có Methamphetamine, hàm lƣợng trung bình là 70,8%.
Tại Cáo trạng số 43/VKS- HS ngày 28/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng đã truy tố Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ thành khẩn khai nhận hành vi của mình nhƣ đã khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính nguy hiểm của hành vi; xem xét, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53, điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, đ khoản 2 Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí Tòa án ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt Đỗ Nhật L từ 36 đến 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2017.
Xử phạt Bùi Văn Đ từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2017.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về việc xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo,
XÉT THẤY:
Lời khai nhận tội của Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ tại phiên toà phù hợp với lời khai, bản cung của các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ đƣợc, lời khai của ngƣời làm chứng, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 01/6/2017, tại khu vực bến đò V thuộc thôn M, xã T, thị xã C, Công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ có hành vi tàng trữ 4,390 gam có Methamphetamine, hàm lƣợng trung bình 70,8% (bằng 3,108gam Methamphetamine) với mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, bởi lẽ:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nƣớc về việc cất giữ chất ma tuý - Một khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Với mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý của bản thân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật của Nhà nƣớc, lén lút cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây dƣ luận xấu trong nhân dân. Nhà nƣớc ta đã có chế độ quản lý ngặt nghèo đối với ma tuý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng… trái phép chất ma túy. Nhà nƣớc đã tuyên truyền rộng rãi dƣới nhiều hình thức về hiểm hoạ của ma tuý và pháp luật của Nhà nƣớc đối với ma tuý. Bản thân các bị cáo là ngƣời nghiện ma tuý nên đã hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ, tính mạng của con ngƣời. Nhƣng do ham chơi, không chịu tu dƣỡng, rèn luyện bản thân, các bị cáo đã sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật của Nhà nƣớc. Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhƣng vẫn thực hiện. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có nhiều ngƣời tham gia, tuy chỉ là đồng phạm giản đơn, song có ngƣời đề xuất, ngƣời thực hành tích cực nên đã làm tăng thêm sự quyết tâm cùng cố ý phạm tội của các bị cáo trong vụ án. Do vậy, với hành vi của mình các bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tƣơng xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với ngƣời phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.
Xét về vị trí, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Đối với Đỗ Nhật L: Bị cáo là ngƣời khởi xƣớng việc phạm tội đồng thời cũng là ngƣời thực hành tích cực, đã trực tiếp mua và tàng trữ số ma túy nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự gì.
Đối với Bùi Văn Đ: Bị cáo là ngƣời giữ vai trò đồng phạm thực hành tích cực. Sau khi đƣợc bị cáo Lệ đề xuất việc phạm tội bị cáo đã hƣởng ứng ngay, đã trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo L đi mua ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành với khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Tuy nhiên, ngày 09/12/2015 Bộ luật hình sự năm 2015 đã đƣợc công bố. Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Nhƣ vậy chính sách hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có sự thay đổi, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thấp hơn so với hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 hiện hành. Mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chƣa có hiệu lực thi hành nhƣng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội thì những quy định có lợi của Bộ luật hình sự 2015 đƣợc áp dụng đối với những hành vi đã thực hiện trƣớc khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành. Do vậy cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Xét cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo đƣợc cải tạo dƣới sự quản lý nghiêm của Nhà nƣớc giúp các bị cáo cải tạo trở thành ngƣời công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Chí Linh đã thu giữ của các bị cáo số Methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại là 2,819gam có thành phần Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu huỷ. Số vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định không có giá trị nên cần thu giữ cho tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu trắng có lắp sim số đã bị cắt không xác định đƣợc seri sim là tài sản của L không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo L. Đối với 01 mảnh giấy kích thƣớc 7x7cm một mặt màu tím than một mặt màu trắng là của bị cáo L xét không có giá trị cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với ngƣời đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đã bán ma túy cho bị cáo L (theo lời khai của bị cáo L) nay chƣa xác định đƣợc lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Đỗ Nhật L 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2017
Xử phạt Bùi Văn Đ 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2017.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu huỷ 2,819gam có Methamphetamine hoàn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói đƣợc đựng trong phong bì niêm phong số 2803/C54 (TT2) của Viện khoa học hình sự- Tổng cục cảnh sát- Bộ Công an. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 mảnh giấy kích thƣớc 7x7cm một mặt màu tím than một mặt màu trắng. Trả lại Đỗ Nhật L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu trắng có lắp sim số đã bị cắt không xác định đƣợc seri sim.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội. Các bị cáo Đỗ Nhật L và Bùi Văn Đ mỗi ngƣời phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Chí Linh; - Công an thị xã Chí Linh; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Các bị cáo; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Quyết |