vanban.org

Bản án 478/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn M 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đặng Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn M - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 478/2019/HS-PT
Ngày: 28 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu

Các Thẩm phán:

1. Ông Phan Thanh Nguyễn

2. Bà Phạm Uyên Thy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diễm Khanh - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 399/2019/TLPT-HS ngày

19/9/2019 đối với bị cáo Đặng Văn M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án

hình sự số: 216/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ

Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Văn M; sinh năm 1994; tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú:

Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh K; tạm trú: Nhà không số, ấp 5 xã Vĩnh Lộc B,

huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới

tính: Nam; nghề nghiệp: Không; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn T và bà

Nguyễn Thị K; tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/01/2019; có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn M: Luật sư Bùi T, Văn phòng Luật

sư Trường Chinh, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 02/2018 Đặng Văn M vào facebook liên hệ thỏa thuận làm giả 02 bộ giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1994, xã Ngãi Tứ, huyện T, tỉnh V và Đặng Văn M, sinh năm 1994, xã H, huyện P, tỉnh B. Đặng Văn M cung cấp thông tin cá nhân và hình của mình cùng với tiền thuê làm giả 3.600.000 đồng.

Khoảng 12 giờ ngày 17/01/2019 Đặng Văn M điều khiển xe mô tô mang

theo giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe hạng A1 giả mang tên Đặng Văn M đến cửa hàng điện thoại di động Việt số 97 đường Võ Văn Ngân, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức để mua điện thoại di động Iphone X 64GB giá 16.000.000 đồng, trả trước 10.000.000 đồng, trả góp 6.000.000 đồng. Trong khi làm thủ tục mua bán thì bị cửa hàng nghi ngờ giấy tờ giả nên đã giữ Đặng Văn M và giao cho cơ quan Công an xử lý, ngoài hành vi này, Minh còn khai nhận: Ngày 08/02/2018 Minh mang chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe hạng A1 giả, mang tên Nguyễn Hoàng Nam đến cửa hàng thế giới di động số 154 đường T, phường L, quận T để mua điện thoại Samsung A8 Plus giá 13.490.000 đồng, trả trước 5.500.000 đồng, trả góp 7.990.000 đồng. Sau khi lấy được điện thoại, M bỏ số điện thoại, giấy chứng M nhân dân, giấy phép lái xe A1 mang tên Nguyễn Hoàng Nam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 216/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 của Tòa

án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí M đã quyết định:

Áp dụng Điều 174 khoản 1; Điều 341 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm b,

s; Điều 52 khoản 1 điểm g; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Đặng Văn M 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt hai tội, Đặng Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/01/2019.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và thời hạn kháng

cáo.

Ngày 15/8/2019 Đặng Văn M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn M giữ nguyên nội dung kháng

cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí M phát biểu quan

điểm về việc giải quyết vụ án: Bị cáo đã thuê đối tượng trên mạng để làm giả giấy chứng M nhân dân và giấy phép lái xe rồi mang các giấy tờ này tới các cửa hàng điện thoại di động để 02 lần “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 09 tháng tù về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không cớ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngoài ra cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 57 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo phạm tội chưa đạt nên rút kinh nghiệm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo đã bồi thường thiết hại cho

bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều

51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế,

bản thân bị tật nguyền và anh ruột cũng bị bệnh, phạm tội chưa gây thiệt hại quy

định tại điểm h, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định

tại điểm i, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát

hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án quy định tại điểm t. Như

vậy, bị cáo có 5 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình

sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo

hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo đồng ý bài bào chữa của Luật sư, không bào chữa bổ sung.

Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư cho rằng cần áp dụng các tình tiết giảm

nhẹ quy định tại điểm h, i, t là không có cơ sở vì bị cáo đã chiếm đoạt tài sản

nên không thể coi chưa gây thiệt hại, bị cáo phạm hai tội nên không thể áp dụng

phạm tội lần đầu và vụ án chỉ có một mình bị cáo nên không thể coi bị cáo tích

cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong

quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác bị cáo phạm nhiều tội nên thuộc trường hợp

không được hưởng án treo được quy định tại Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm

phán tòa án nhân dân tối cao.

Luật sư, Kiểm sát viên bảo lưu quan điểm đã tranh luận, đối đáp, không

bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đặng Văn M: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn M trong thời hạn luật định là hợp

lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa phúc thẩm.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đặng Văn M những tài liệu, chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Đặng Văn M đã có hành vi

sử dụng 02 bộ giấy chứng M nhân dân, giấy phép lái xe hạng A1 mang tên

Nguyễn Hoàng Nam, sinh năm 1994, thường trú xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình,

tỉnh Vĩnh Long và Đặng Văn M, sinh năm 1994, thường trú xã Hưng Phú, huyện

Phước Long, tỉnh Bạc Liêu để thực hiện hành vi 02 lần lừa đảo chiếm đoạt tài

sản bằng hình thức mua điện thoại di động, tổng cộng số tiền chiếm đoạt

13.900.000 đồng.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn M: Bản án sơ thẩm số

216/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã xét xử bị cáo Đặng Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và còn xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan nhà nước nên hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm. Khi xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đồng thời mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo cho rằng gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính để giảm hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã

có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình

sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51;

điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn M 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đặng Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/01/2019.

Bị cáo Đặng Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ