vanban.org

Bản án 478/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Ng.

Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Tường V sinh ngày 29-11-2009 và Lê Nguyễn Thiên K sinh ngày 28-5-2012, cho chị Nguyễn Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lê Phương Ch không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Về án phí: Căn cứ khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnánsố:478/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17-9-2018
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trƣơng Hoàng Hoa

Ông Nguyễn Quốc Thuần

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1989; (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Lê Phƣơng Ch, sinh năm 1981; (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Ng trình bày: Chị và anh Lê Phương Ch cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo vào năm 2008. Hai người sống hạnh phúc đến cuối năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn. Hai người đã ly thân vào tháng 7-2017 cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành nên yêu cầu được ly hôn với anh Ch.

Về con chung: Có hai con chung tên Lê Nguyễn Tường V sinh ngày 29-11-2009 và Lê Nguyễn Thiên K sinh ngày 28-5-2012. Chị Ng yêu cầu được nuôi 02 cháu V và K không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không có; Về nợ chung: Không có.

Bị đơn, anh Lê Phương Ch dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ng, đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa.

Tại phiên tòa, chị Ng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ng. Giao hai cháu Lê Nguyễn Tường V sinh ngày 29-11-2009 và Lê Nguyễn Thiên K sinh ngày 28-5-2012 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng xác định không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Nguyễn Kim Ng và anh Lê Phương Ch tranh chấp về việc ly hôn; bị đơn hiện cư trú tại ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Anh Lê Phương Ch không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Ch.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Lê Phương Ch là hôn nhân hợp pháp vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn được một thời gian đến năm 2010 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, hiện hai người đã sống ly thân không còn sống chung từ đầu năm 2018 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, khi chị Ng có đơn xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng anh Ch không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ng, các lần hòa giải và tại phiên tòa anh Ch vắng mặt không có lý do. Điều đó đã cho thấy anh Ch không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh chị. Hiện tại, hai người đã sống ly thân nhau nên tình cảm và đời sống chung của vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; anh Ch không có ý kiến, không tham gia hòa giải nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận cho chị Ng được ly hôn với anh Ch là phù hợp.

Về con chung: Có hai con chung tên Lê Nguyễn Tường V sinh ngày 29-11-2009 và Lê Nguyễn Thiên K sinh ngày 28-5-2012. Cháu V có nguyện vọng sống với chị Ng, đối với cháu K mới 06 tuổi nên rất cần sự đùm bọc, thương yêu của mẹ và chị, do đó xét cần giao hai cháu V và K cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, do chị Ng không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không buộc anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim Ng. Chị Nguyễn Thị Kim Ng được ly hôn với anh Lê Phương Ch.

2. Về con chung: Giao hai cháu Lê Nguyễn Tường V sinh ngày 29-11-2009 và Lê Nguyễn Thiên K sinh ngày 28-5-2012, cho chị Nguyễn Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lê Phương Ch không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Chị Nguyễn Thị Kim Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Ng đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014710 ngày 12-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, xem như đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Ng có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Ch có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ