vanban.org

Bản án 477/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/09/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Hữu N và sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Trương Hữu N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” Thời hạn tù tính từ ng y bắt bị cáo chấp h nh án. VKSND TP.HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Hữu N và sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ản án số: 477/2025/HS-PT
Ngày: 04-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đo n Thị Hương Giang.

Các Thẩm phán:

1.

Nguyễn Thị H

2.

Phạm Uyên Thy

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Th nh phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 385/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Trương Hữu N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 1 (nay l To án nhân dân Khu vực 1), Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Hữu N, sinh ngày 16/8/1986 tại Kiên Giang; Thường trú: Ấp C, xã V, huyện G, tỉnh K (nay thuộc xã V, tỉnh An Giang); Nơi ở hiện tại: Số A, đường Đ, ấp 4, xã P, huyện N, Th nh phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Xã N, Th nh phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: T i xế; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Văn R và Lê Thị N1; ị cáo có vợ tên Lê Thị T, có 02 (hai) con chung, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.

ị cáo tại ngoại – Có mặt.

- Người bào chữa: Ông Lê Nguyễn Thế T1 l luật sư của Công ty Luật TNHH Nguyễn Lê thuộc Đo n luật sư Th nh phố Hồ Chí Minh b o chữa cho bị cáo Trương Hữu N. (Trong vụ án còn có bị hại ông Trần Vĩnh H nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 33 phút ng y 26/12/2024, Trương Hữu N l t i xế lái xe của ông Trần Vĩnh H, điều khiển xe ô tô biển số 51L-386.27 chở ông H đến đường Đề Thám để đi ăn. Khi đến nơi, N đậu xe ô tô tại trước số 234-236 Đề Thám, phường P, Quận 1 để ông H vào trong quán ăn. Khi đang ngồi chờ ông H ở ghế t i xế, N quay lại h ng ghế sau thì phát hiện có hai túi xách m u đen của ông H đang để ở h ng ghế sau nên N nảy sinh ý định trộm cắp t i sản. N dùng hai tay mở túi xách nhỏ m u đen ra v lén lút lấy 500.000 đồng (gồm 05 tờ tiền loại mệnh giá 100.000 đồng) cất v o trong túi áo bên ngực trái v lấy 1.000 Đô la Singapore (gồm 10 tờ tiền loại mệnh giá 100 Đô la Singapore) trong túi xách lớn m u đen rồi cất giấu dưới thảm lót s n xe dưới chân chỗ N ngồi. Lúc này, ông H đang ngồi trong quán ăn kiểm tra camera gắn trong xe ô tô thì phát hiện N mở túi lấy tiền nên gọi điện báo Công an phường P tiến h nh kiểm tra, đưa N cùng vật chứng về trụ sở để l m việc v lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Quận 1, Th nh phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền. Ng y 30/12/2024, Hội đồng định giá t i sản trong Tố tụng hình sự Quận 1, có kết luận giám định t i sản số 211/KL-HĐĐGTS, kết luận: 1.000 Đô la Singapore (SGD), quy đổi ra tiền Việt Nam: 1 Đô la Singapore/SGD=19.067 đồng/VND/Việt Nam x 1.000 Đô la Singapore (SGD)=19.067.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Trương Hữu N khai nhận h nh vi trộm cắp như trên, lời khai của N l phù hợp với hình ảnh camera thu giữ trên xe ô tô biển số 51L-386.27, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất v các t i liệu chứng cứ m Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2025/HS-ST ngày 15-5-2025 của Tòa án nhân dân Quận 1, Th nh phố Hồ Chí Minh đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Hữu N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt bị cáo chấp h nh án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo v những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Ngày 22 và ngày 23/05/2025, bị cáo Trương Hữu N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Hữu N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Đồng thời, khai nhận to n bộ diễn biến h nh vi chiếm đoạt 500.000 đồng v 1.000 Đôla Singapore của bị hại Trần Vĩnh H như nội dung bản án sơ thẩm, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo vì gia đình có ho n cảnh khó khăn, bị cáo l lao động chính, có 02 con nhỏ đang độ tuổi đi học.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Th nh phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả h nh vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin hưởng án treo của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt của cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo l phù hợp. Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình b y l lao động chính v gia đình có ho n cảnh khó khăn nhưng không cung cấp được t i liệu chứng minh cho lời trình b y của mình l có cơ sở nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Lê Nguyễn Thế T1 b o chữa cho bị cáo Trương Hữu N trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh v khung hình phạt m cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, ngo i các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng m cấp sơ thẩm đã xem xét thì t i sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại nên hậu quả của vụ án đã được khắc phục to n bộ, đây l tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định có khả năng tự cải tạo v bị cáo có đầy đủ các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NĐ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán. Từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 3, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của ộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết 02/2018/NĐ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

ị cáo đồng ý quan điểm b o chữa của luật sư v không tham gia tranh luận.

Viện kiểm sát tranh luận: T i sản bị cáo chiếm đoạt được Cơ quan Công an thu hồi khi bắt giữ bị cáo v trả cho bị hại chứ không phải bị cáo tự nguyện giao nộp, đồng thời các tình tiết về nhân thân như bị cáo l lao động chính, gia đình có ho n cảnh khó khăn nhưng luật sư v bị cáo không cung cấp được t i liệu chứng cứ nên không có cơ sở áp dụng khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo. Xét, mức hình phạt 01 năm tù m cấp sơ thẩm tuyên phạt l phù hợp với trị giá t i sản chiếm đoạt 19.567.000 đồng, các tình tiết giảm nhẹ v nhân thân của bị cáo nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.

Các bên còn đưa ra một số quan điểm đối đáp, tranh tụng nhưng kết thúc phần tranh luận đều bảo lưu quan điểm như đã trình b y. Lời nói sau cùng: ị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Hữu N về nội dung quyền kháng cáo v thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của ộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm. [2] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 1, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3] Căn cứ lời khai của bị cáo Trương Hữu N tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: [3.1] ị cáo Trương Hữu N l t i xế lái xe của ông Trần Vĩnh H. Khoảng 16 giờ 33 phút, ng y 26/12/2024, sau khi điều khiển xe ô tô biển số 51L-386.27 chở ông H đến trước nh số 234-236 Đề Thám, Phường P, Quận 1 (nay l Phường B, Th nh phố Hồ Chí Minh), N đã lợi dụng việc ông H xuống xe nhưng để lại hai túi xách m u đen ở h ng ghế sau, để tiếp cận, lén lút thực hiện h nh vi chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng v 1.000 Đô la Singapore rồi cất giấu, thì bị ông H phát hiện thông qua hệ thống camera giám sát gắn trên xe. Tổng trị giá t i sản chiếm đoạt là 19.567.000 đồng. [3.2] Với diễn biến của h nh vi khách quan v hậu quả tội phạm nêu trên thì ản án hình sự sơ thẩm số 76/2025/HS-ST ngày 15-5-2025 của Tòa án nhân dân Quận 1, Th nh phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Trương Hữu N về tội “Trộm cắp t i sản” l có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai. [4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo của bị cáo Trương Hữu N, Hội đồng xét xử xét thấy: [4.1] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo. [4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người b o chữa v bị cáo trình b y hiện l lao động chính trong gia đình có ho n cảnh khó khăn, t i sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại nên thiệt hại đã được khắc phục. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận một phần quan điểm trình b y của bị cáo, b o chữa của luật sư để cân nhắc việc t i sản chiếm đoạt đã thu hồi v trả lại ngay cho bị hại nên hậu quả vụ án đã được khắc phục, để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với tình tiết bị cáo l lao động chính trong gia đình, có ho n cảnh khó khăn do bị cáo, luật sư không cung cấp được t i liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở áp dụng.

Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ giảm nhẹ hơn nữa một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét, bản thân bị cáo l người lao động làm nghề t i xế lái xe cho ông H, nhưng lại lợi dụng chính vị trí công việc của mình để tiếp cận, chiếm đoạt t i sản người sử dụng lao động, ngay trên xe ô tô của bị hại có camera giám sát l thể hiện sự manh động, ý thức coi thường pháp luật nên việc cho bị cáo hưởng án treo không đảm bảo yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm, cũng như điều kiện cho hưởng án treo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao.

Từ những lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Hữu N, sửa bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của ộ luật Tố tụng Hình sự v Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ng y 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của ộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Hữu N và sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Hữu N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” Thời hạn tù tính từ ng y bắt bị cáo chấp h nh án.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của ộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ