- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Lê Văn N"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!CẤP!CAO! TẠI!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 477/2019/HC-PT Ngày 18 - 7 - 2019. V/v: “Khiếu kiện Quyết thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!CẤP!CAO!TẠI!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa:! Ông Vũ Ngọc Huynh !
Các!Thẩm!phán:!
Ông Phạm Trung Tuấn!
Ông Phan Đức Phương!
Thư!ký!phiên!tòa: Ông Trần Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!cấp!cao!tại!Thành!phố!Hồ!Chí!Minh: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 432/2018/TLST-HC ngày 31 tháng 8 năm 2018 về việc “Khiếu kiện Quyết thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2018/HC-ST ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1297/2019/QĐPT-HC ngày 03 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
-!Người!khởi!kiện: Ông Lê Văn N , sinh năm 1953 (Có mặt).
Cư trú: thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
-!Người!bị!kiện: Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới.
Người!đại!diện!theo!ủy!quyền!của!người!bị!kiện: Ông Vũ Minh T – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới, theo giấy ủy quyền số 195/QĐ – UBND ngày 07/02/2018 (Xin vắng mặt).
Người!bảo!vệ!quyền!và!lợi!ích!hợp!pháp!cho!người!bị!kiện: Ông Đặng Thiện Đ – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chợ Mới (Có mặt); ông Hồ Hữu L – Chuyên viên Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới (Xin vắng mặt).
-!Người!có!quyền!lợi!và!nghĩa!vụ!liên!quan:
1. Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ Luông (Vắng mặt).
Trụ sở: thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
2. Bà Trần Thị P , sinh năm 1952 (Xin vắng mặt).
Cư trú: thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo!đơn!khởi!kiện,!lời!khai!của!các!đương!sự!và!các!tài!liệu!có!trong! hồ!sơ!vụ!án,!thể!hiện:!
Ngày 12/02/1999, Ủy ban nhân dân (Viết tắt UBND) huyện Chợ Mới ban hành Quyết định số 70/QĐ.UB (Viết tắt Quyết định số 70/QĐ.UB) Về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn R (ông R tranh chấp đất với ông T1 và ông N ) có nội dung “…Giữ nguyên hiện trạng đất thổ cư + vườn cho ông Lê Văn T1 và ông Lê Văn N sử dụng diện tích nộp thuế là 1.500m2…”.
Năm 2000, ông Lê Văn N kê khai đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 2.055,7m2 (Trong đó có diện tích đất theo Quyết định số: 70/QĐ.UB Về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn R ) đất thổ và cây lâu năm, được các hộ tứ cận thống nhất ký tên vào Biên bản xác định ranh giới, mốc giới khu đất ngày 02/11/1999.
Ngày 16/02/2001, ông Lê Văn N được Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt GCNQSDĐ) số: 03570QSDĐ/pB ngày 16/02/2001, diện tích 2.055,7m2 đất thổ cư và cây lâu năm khác thuộc Tờ Bản đồ số 37, thửa 150, tọa lạc tại thị trấn Mỹ Luông. Hiện tại, ông Lê Văn N và bà Trần Thị P đã thế chấp Giấy này tại Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ Luông.
Năm 2013, ông Lê Văn T1 khiếu nại về việc cấp GCNQSDĐ cho ông Lê Văn N đối với diện tích đất nêu trên vì UBND huyện cấp Giấy cho riêng ông N trong đó có diện tích đất 1.500m2 của chung ông T1và ông N theo Quyết định số: 70/QĐ.UB là không đúng.
Ngày 04/12/2014, UBND huyện Chợ Mới ban hành Thông báo số: 2506/TB –UBND Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật.
Ngày 02/8/2017, UBND huyện Chợ Mới ban hành Quyết định số 1556/QĐ-UBND Về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn N (giải quyết khiếu nại đối với Thông báo số 2506/TB –UBND) và Quyết định số 1557/QĐ-UBND (Quyết định 1557/QĐ-UBND) về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03770QSDĐ/pB diện tích 2.055,7m2 đất thổ và cây lâu năm khác đã cấp cho ông Lê Văn N .
Ngày 19/9/2017, ông Lê Văn N khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1557/QĐ-UBND.
Người!bị!kiện!-!UBND!huyện!Chợ!Mới!trình!bày:!
2
UBND huyện Chợ Mới thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn N với lý do cấp không đúng đối tượng. Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn N là đúng quy định pháp luật về đất đai. Xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng.
Bà Trần Thị P có văn bản thống nhất ý kiến với ông N và xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng.
Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ Luông vắng mặt không lý do suốt quá trình tố tụng cũng không gửi ý kiến cho Tòa án.
Tại! Bản! án! hành! chính! sơ! thẩm! số! 339/2018/HC-ST! ngày! 06-7-2018,! Toà!án!nhân!dân!tỉnh!An!Giang!quyết!định:
Áp dụng: Khoản 1, Điều 30; khoản 4, Điều 32; điểm a, khoản 2, Điều 193; khoản 1, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
+ Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N đối với Quyết định số: 1557/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 16-7-2018, người khởi kiện ông Lê Văn N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao sửa bản án sơ thẩm xem xét hủy các quyết định quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại!phiên!tòa!phúc!thẩm:!
Người!khởi!kiện!ông!Lê!Văn!N!trình!bày: Nguồn gốc đất của ông bà nội cho cha ông, cha ông cho lại ông. Sau đó Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết theo Quyết định số 70/QĐ.UB Ngày 12/02/1999. Ông N đã sử dụng ổn định có đóng thuế đầy đủ. Gia đình ông T1 không sử dụng. Ngày 16/2/2001 UBND huyện chợ Mới cấp cho ông giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03570QSDĐ/pB, diện tích 2.055,7m2 đất thổ cư và cây lâu năm khác thuộc Tờ Bản đồ số 37, thửa 150, tọa lạc tại thị trấn Mỹ Luông là đúng trình tự và đúng đối tượng. Ông N thừa nhận diện tích đất ông N được cấp trong đó có hơn 500m2 là đất mồ mả. Ông N yêu cầu Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm xem xét hủy quyết định quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N .
Người!bảo!vệ!quyền!và!lợi!ích!hợp!pháp!cho!người!bị!kiện!ông!Đặng! Thiện! Đ! trình! bày:! Ngày 12/02/1999, Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới ban
3
hành Quyết định số: 70/QĐ.UB, về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn R (ông R tranh chấp đất với ông T1 và ông N ) có nội dung “…Giữ nguyên hiện trạng đất thổ cư + vườn cho ông Lê Văn T1 và ông Lê Văn N sử dụng diện tích nộp thuế là 1.500m2…”. Ông N khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không cung cấp Quyết định số 70/QĐ.UB cho Ủy ban và do lượng công việc nhiều nên Ủy ban cũng không kiểm tra đầy đủ cho nên dẫn đến sai sót. Để khắc phục sai sót ngày 02/8/2017 Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới ban hành Quyết định số 1557/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03770QSDĐ/pB diện tích 2.055,7m2 đất thổ và cây lâu năm khác đã cấp cho ông Lê Văn N . Đây là thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải thu hồi đất. Nếu ông N và ông T1 thỏa thuận được với nhau giao đất cho ông N thì Ủy ban sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và miễn nghĩa vụ thuế cho ông. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông N giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm!sát!viên!phát!biểu!ý!kiến:!Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện các thủ tục tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm thu thập đầy đủ các chứng cứ và xét xử đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Mới và bà Trần Thị P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ Luông được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 255 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Quyết định số 1557/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới ban hành ngày 02/8/2017, đến ngày 19/9/2017, ông Lê Văn N khởi kiện là trong thời hạn được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của ông Lê Văn N :
[2.1.1] Tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Văn N xác định diện tích đất 1.500m2 mà ông N cho rằng của ông N là do được Ủy ban nhân dân (Viết tắt UBND) huyện Chợ Mới giải quyết theo Quyết định số 70/QĐ.UB Ngày 12/02/1999. Tuy nhiên, Quyết định này lại có nội dung “…Giữ nguyên hiện trạng đất thổ cư + vườn cho ông Lê Văn T1và ông Lê Văn N sử dụng diện tích nộp thuế là 1.500m2…”. Ông N thừa nhận khi nhận quyết định số 70/QĐ.UB Ngày 12/02/1999 của UBND huyện Chợ Mới vào năm 1999 và ông N không khiếu nại quyết định này.
4
[2.1.2] Theo Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 25/7/2000, ông N kê khai nguồn gốc sử dụng đất “Đất của cha là ông Lê Văn T2 cho con” là không đúng với thực tế. Theo trình bày của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới thì khi tiến hành các thủ tục cấp đất cho ông N , các cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét theo kê khai của ông N , mà không xem xét kỹ nguồn gốc đất vì ông N không nộp quyết định 70/QĐ.UB nêu trên, nên ngày 16/02/2001 Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03770QSDĐ/pB diện tích 2.055,7m2 đất thổ và cây lâu năm khác đã cấp cho ông N .
[2.1.3] Đối với diện tích 2.055,7m2 đất ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoài 1.500m2 đất theo quyết định 70/QĐ.UB nêu trên thì còn hơn 500m2 là đất mồ mả sử dụng chung của dòng họ. Như vậy, khu đất 2.055,7m2 ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên trong đó còn có một phần diện tích đất của ông Lê Văn T1 (Theo quyết định 70) và một phần đất mồ mả sử dụng chung của dòng họ. Do đó, việc UBND huyện Chợ Mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N đối với diện tích đất này là không đúng quy định của pháp luật.
[2.1.4] Sau khi phát hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N nêu trên là trái với quy định của pháp luật thì UBND huyện Chợ Mới đã ban hành Thông báo số 2506/TB-UBND ngày 04/12/2014, nội dung xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật để ông N thực hiện quyền khiếu nại, sau đó UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mới ban hành Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 02/8/2017, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N đối với diện tích đất nêu trên là đúng pháp luật.
[2.1.5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát viên tại phiên tòa; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn N ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Lẽ ra ông N phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm, nhưng do ông là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí (Bút lục 30) và được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang chấp nhận (Bút lục 139) nên được miễn toàn bộ án phí hành chính phúc thẩm, theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
5
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn N ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm: Ông Lê Văn N được miễn toàn bộ.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: Tòa án nhân dân tối cao; VKSNDCC tại Tp. HCM TAND tỉnh An Giang; VKSND tỉnh An Giang; Cục THADS tỉnh An Giang; Các đương sự, đại diện đương sự; Lưu, TTT. 6 7 | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Vũ!Ngọc!Huynh! |