vanban.org

Bản án 476/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc G được ly hôn với ông Nguyễn Hữu H. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020 cho bà Nguyễn Thị Trúc G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 476/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/12/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Tuân Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Văn Chánh

- Bà Thiều Thị Phi Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1151/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 560/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc G, sinh năm 1991;

Địa chỉ thường trú: Tổ A, ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ tạm trú: H tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1986;

Địa chỉ thường trú: Tổ F, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ tạm trú: H tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai, tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Nguyễn Thị Trúc G) và ông Nguyễn Hữu H tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được UBND xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88-2011, quyển số 01-2011 ngày 21/9/2011.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian và có 02 con chung. Nhưng sau đó thì đời sống vợ chồng giữa tôi và ông H phát sinh những bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không còn hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau. Ông H thường xuyên uống rượu, say xỉn chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm tôi, đập phá đồ đạc trong nhà, có lần dùng dao dọa đòi giết tôi. Tôi cảm thấy ngột ngạt, khó chịu khi phải sống chung như vậy. Một thời gian dài tôi và ông H cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng giữa tôi và ông H bây giờ không còn tình yêu mà chỉ là sự chịu đựng. Tôi đã nhiều lần quyết định ly hôn với ông H nhưng được người thân hai bên gia đình khuyên ngăn nên cuộc hôn nhân giữa tôi và ông H mới kéo dài cho đến ngày hôm nay. Nhận thấy, cuộc hôn nhân hiện tại giữa tôi và ông H không có hạnh phúc, tình trạng xung đột về tính cách ngày càng trở nên gay gắt và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc gắn gượng sống chung chỉ làm cả hai bên thêm nặng nề, mệt mỏi, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho tôi (G) được ly hôn với ông Nguyễn Hữu H.

- Về con chung: Tôi (Nguyễn Thị Trúc G) và ông Nguyễn Hữu H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020. Khi ly hôn, tôi yêu cầu Toà án giao 02 con chung Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Ngọc Diễm M1 cho tôi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 hiện đang học Lớp 6 Trường THCS T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Cháu Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020, còn nhỏ đang sống với mẹ G.

Hiện tôi làm công nhân tại Công ty P – phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, đảm bảo kinh tế nuôi con, có nhà ở đảm bảo chỗ ở cho con.

- Về tài sản chung: Không có, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Hữu H Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và văn bản tố tụng đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên không có lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa. * Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” là đúng.

+ Về tư cách đương sự: Tòa án xác định tư cách đương sự trong vụ án là đúng.

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình đúng thẩm quyền.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án: Đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật; bị đơn ông Nguyễn Hữu H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G , về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX xét xử cho bà Nguyễn Thị Trúc G được ly hôn với ông Nguyễn Hữu H.

+ Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc G và ông Nguyễn Hữu H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020. Khi ly hôn, bà G đề nghị Toà án giao 02 con chung Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Ngọc Diễm M1 cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Hữu H vắng mặt không có lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa ý kiến về nội dung này nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.

- Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1986; Địa chỉ thường trú: Tổ F, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ tạm trú: H tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà đề ngày 11/11/2024. Bị đơn ông Nguyễn Hữu H Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Trúc G và ông Nguyễn Hữu H tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được UBND xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88-2011, quyển số 01-2011 ngày 21/9/2011. Căn cứ vào các Điều 9, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa bà G và ông H được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Tuy nhiên lời khai có tại hồ sơ, bà G kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hữu H do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được như trình bày trên.

Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 25/10/2024 tại UBND phường H, thành phố B có tại hồ sơ (Bút lục số 43) ghi nhận nội dung: “Bà Nguyễn Thị Trúc G và ông Nguyễn Hữu H trú tại địa chỉ: H tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng hay không địa phương không rõ do không nhận được trình báo hay liên hệ để giải quyết”. Theo Biên bản xác minh tại Công an phường phường H, thành phố B ngày 25/10/2024 (Bút lục số 42) có tại hồ sơ ghi nhận nội dung: “Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1986 có khai báo nơi ở hiện tại và đang sinh sống tại địa chỉ: H tổ I, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Hữu H đến trụ sở làm việc, tổ chức phiên họp hòa giải để bà G và ông H đoàn tụ gia đình nhưng ông H đều vắng mặt không đến Tòa án tham gia tố tụng nên Tòa án lập biên bản không tiến hành làm việc, hòa giải đoàn tụ được. Việc ông H không đến Tòa án cung cấp chứng cứ chứng minh là tự tước bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Qua xem xét đơn khởi kiện, trình bày của nguyên đơn và chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà G và ông H là có thật, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được theo như bà G trình bày trên là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét xử cho bà G được ly hôn với ông Nguyễn Hữu H.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc G và ông Nguyễn Hữu H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020. Khi ly hôn, bà G đề nghị Toà án giao 02 con chung Nguyễn Thị Trà M và Nguyễn Ngọc Diễm M1 cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà G hiện làm công nhân tại Công ty P – phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, đảm bảo kinh tế nuôi con, có nhà ở đảm bảo chỗ ở cho con. Cháu M1 hiện đang học Lớp 6 Trường THCS T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời, theo Bản tự khai của cháu Nguyễn Thị Trà M bà Biên B lấy lời khai cháu M cùng ngày 20/6/2024 có tại hồ sơ (Bút lục số 39-40), nguyện vọng của cháu Trà M sau khi ba mẹ ly hôn được sống chung với mẹ G, ý chí của cháu Trà M là tự nguyện nên ghi nhận. Vì vậy, HĐXX xét thấy có cơ sở giao cháu Trà M cho bà G chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Hữu H vắng mặt không có lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa ý kiến về nội dung này nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bà Nguyễn Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc G được ly hôn với ông Nguyễn Hữu H.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Ngọc Diễm M1, sinh ngày 05/12/2020 cho bà Nguyễn Thị Trúc G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết vì quyền và lợi ích hợp pháp của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, không có ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Hữu H về nội dung này nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.

- Về nợ chung: Nguyên đơn bà bà Nguyễn Thị Trúc G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, không có ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Hữu H về nội dung này nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.

2. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà G đã nộp theo biên lai thu số 0003599 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, bà G đã nộp đủ án phí.

3. Về kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Trúc G và ông Nguyễn Hữu H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ