- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "t/c hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 476/2018/DS – ST Ngày: 04/10/2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Cúc
Ông Tiêu Kim Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 03
năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2018/QĐXXST-DS ngày 10
tháng 08 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 119/QĐST-DS ngày 07 tháng
09 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
Ngân hàng V.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 9 đường D, Phường A, Quận B, TP.Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phan Thị Mỹ H- sinh năm 1988 (có mặt) là
người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số: 14/UQ-QTRR.17 ngày
22/03/2017 và văn bản ủy quyền lại số: 182/UQTA-QTRR.18 ngày 19/01/2018)
2. Bị đơn: Ông Dương Quốc H– sinh năm: 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường A, Phường B, Quận 10, TP.Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 19/01/2018 và quá trình giải quyết vụ án, đại
diện nguyên đơn là bà Phan Thị Mỹ H trình bày:
Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (viết tắt
là Công ty Tài chính) có cho ông Dương Quốc H vay tiền theo Đơn đề nghị vay vốn
kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/05/2015 do ông H ký. Công ty Tài
chính có theo dõi riêng bằng Hợp đồng tín dụng số 20150521-100001-0004 ngày
17/05/2015. Căn cứ đơn đề nghị ngày 16/05/2015, Công ty Tài chính đã duyệt cho
ông H vay số tiền là 21.100.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 3,75%/tháng, phương thức
thanh toán: ông H có trách nhiệm thanh toán số tiền 39.544.000 đồng (gồm cả gốc và
lãi), mỗi tháng trả 1.078.000 đồng liên tiếp trong vòng 35 tháng, tháng thứ 36 trả
1.814.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 01/07/2015.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã thanh toán cho Công ty Tài
chính được số tiền là 3.200.000 đồng. Từ ngày 22/06/2017 đến nay ông H không trả thêm khoản tiền nào mặc dù Công ty Tài chính đã nhắc nhiều lần.
Nay Công ty Tài chính yêu cầu ông H phải trả ngay toàn bộ số nợ còn lại theo
Đơn đề nghị vay vốn ngày 16/05/2015, số tiền là 36.344.000 đồng, trong đó nợ gốc là 17.900.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt cho
ông Dương Quốc H các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải theo qui định tại các Điều 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Dương Quốc H không đến làm việc và hòa giải nên không ghi được ý kiến của ông H. Ngày 19/07/2018, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Dương Quốc H đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia hòa giải lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện nguyên đơn, bà Phan Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên quan điểm như trên
và bổ sung:
Hợp đồng tín dụng số 20150521-100001-0004 ngày 17/05/2015 giữa Công ty
Tài chính và ông Dương Quốc H chính là Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/05/2015 do ông H ký. Công ty Tài chính có theo dõi riêng bằng Hợp đồng tín dụng nhưng không cung cấp được vì chỉ lưu trên hệ thống máy tính nội bộ của Công ty Tài chính. Căn cứ đơn đề nghị ngày 16/05/2015 của ông H, ngày 23/05/2015 Công ty Tài chính đã cho ông H vay số tiền 21.100.000 đồng.
Tính đến ngày 19/09/2018 ông H đã thanh toán cho Công ty Tài chính được số
tiền là 4.000.000 đồng. Nay Công ty Tài chính yêu cầu ông H phải trả ngay toàn bộ số nợ còn lại theo Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 04/10/2018, tổng số tiền là: 35.544.000 đồng, bao gồm nợ gốc 17.400.000 đồng, tiền lãi 18.144.000 đồng.
- Ông Dương Quốc H: Vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Công ty Tài chính, xác
định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình
bày của đương sự đã có đủ cơ sở xác định:
Công ty Tài chính và ông Dương Quốc H có ký Đơn đề nghị vay vốn kiêm
giấy đăng ký kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/05/2015, số hiệu hồ sơ: 0125480 (ông H ký và Công ty Tài chính xác nhận). Tài liệu này được Công ty
Tài chính theo dõi bằng Hợp đồng tín dụng số 20150521-100001-0004 ngày
17/05/2015. Số tiền vay là 21.100.000 đồng nhưng đến nay đã quá hạn ông H mới
thanh toán cho Công ty Tài chính được 4.000.000 đồng.
Căn cứ Đơn đề nghị vay vốn ngày 16/05/2015 của ông H, đồng thời căn cứ chi
tiết giao dịch và thanh toán nợ thể hiện tại bản Tóm tắt sao kê ngày 04/10/2018 thì
tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông H còn nợ Công ty Tài chính tổng số tiền là:
35.544.000 đồng (bao gồm tiền nợ gốc: 17.400.000 đồng, tiền lãi: 18.144.000 đồng).
Xét thấy, ông H đã sử dụng tiền vay của Công ty Tài chính để thanh toán tiêu
dùng cá nhân với số tiền 21.100.000 đồng nhưng không thanh toán hết số nợ, lãi đúng
hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, gây thiệt hại cho Công ty Tài
chính nên cần buộc ông H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính toàn bộ số
nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Số tiền lãi vay đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên, phù
hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
nên yêu cầu của nguyên đơn về số tiền buộc bị đơn phải trả đến ngày xét xử sơ thẩm
là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Ông Dương Quốc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên
số tiền phải trả cho Công ty Tài chính là 1.777.200 đồng. Trả lại cho Công ty Tài
chính số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của
Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm
hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V.
1.1. Ông Dương Quốc H có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền nợ theo Đơn đề nghị vay vốn
kiêm giấy đăng ký kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 16/05/2015, số tiền
là 35.544.000 đồng (ba mươi lăm triệu, năm trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) (bao
gồm nợ gốc: 17.400.000 đồng, nợ lãi 18.144.000 đồng).
Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng
V có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nói trên, hàng tháng ông Dương Quốc H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 1.777.200 đồng (một triệu, bảy trăm
bảy mươi bảy nghìn, hai trăm đồng) do ông Dương Quốc H chịu. Hoàn lại cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 908.600 đồng (chín trăm lẻ tám nghìn, sáu trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0040467 ngày 09/03/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo:
Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V có
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Dương Quốc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP-VKSNDTP; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q.10; - Các đương sự, - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huyền |