- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 475/2023/HS-PT Ngày: 28/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Công Ông Nguyễn Tấn Long. - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Trần Viết Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Ngày 28-9-2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 418/2023/TLPT- HS ngày 06-9-2023 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 04-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. - Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Trọng T, sinh năm 1995 tại Đắk Lắk; nơi Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Trọng Q và bà Nguyễn Thị L; vợ là Đỗ Thị Thu T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 12-12-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ, có mặt tại phiên tòa. - Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo: Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Hoàng L1 - Văn phòng Luật sư Lê Hoàng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số G H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên toà. Bị hại: Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt. (Vụ án có 05 người làm chứng, nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 07-8-2022, Nguyễn Trọng T cùng với anh Nguyễn Văn L2 và một số người khác đánh Bida ở quán H, thuộc thôn Đ, xã E huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Khi đang chơi, thì anh Nguyễn Hữu T2 đi ngang qua thấy anh L2 trong quán, anh T2 vào nói anh L2 trả tiền sửa điện thoại cho mình, nhưng anh L2 không trả nên hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, xô xát nhau. Anh T2 lấy điện thoại đánh vào mặt anh L2, anh L2 cũng đánh lại anh T2, nhưng không trúng và bị trượt chân té ngã xuống nền xi măng, nên bị anh T2 dùng chân đá vào người. Lúc này, Nguyễn Trọng T đang đánh B ở phía trong quán, thấy anh L2 bị anh T2 đánh, T cầm cơ B chạy ra đánh 01 nhát từ trên xuống, trúng vào vùng đầu của anh T2 rồi đánh tiếp 01 nhát vào vai của anh T2 gây thương tích. Cùng lúc, anh L2 đang nằm dưới đất đứng dậy xông đến dùng tay đánh vào người anh T2, nhưng không gây thương tích. Khi phát hiện anh T2 bị chảy máu, anh L2 không đánh nữa và cùng mọi người đưa anh T2 đi cấp cứu tại Trạm y tế xã E. Tại Bản kết luận giám định số 868/TgT-TTPY ngày 30-9-2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Anh Nguyễn Hữu T2 bị vết thương để lại sẹo nằm chéo đỉnh trái, trán trái, đầu trên cách đường giữa 2,5 cm, đầu dưới cách đường giữa 1 cm, bờ nham nhở, dính da xung quanh sẹo. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái không còn hình ảnh trên phim chụp CT scanner sọ não, nứt sọ trán trái kèm xoang trán trái, với tỷ lệ thương tích là 17%; vật tác động: Vật tày cứng; cơ chế hình thành thương tích: vết thương để lại sẹo nằm chéo đỉnh trán trái, đầu trên cách đường giữa 2,5 cm, đầu dưới cách đường giữa 01 cm, bờ nham nhở, dính da xung quanh sẹo; tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, nứt sọ trán kèm xoang trán trái là do tác động trực tiếp của vật tày, cứng hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích, số 869/VGTT ngày 17-10-2022, Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Đoạn gậy bằng gỗ cứng, màu nâu dài 73 cm, nặng 450 gram là một vật tày và vật tày có cạnh, cứng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk gửi đến giám định thì có khả năng gây ra các tổn thương: Vết thương để lại sẹo nằm chéo đỉnh trán trái, đầu trên cách đường giữa 2,5 cm, đầu dưới cách đường giữa 01 cm, bờ nham nhở, dính da xung quanh sẹo; tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, nứt sọ trán kèm xoang trán trái như trên cơ thể của Nguyễn Thanh T3. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 04-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: - Nguyễn Trọng T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-12-2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. - Ngày 05-8-2023, Nguyễn Trọng T kháng cáo xin giảm hình phạt. - Ngày 10-8-2023, bị hại Nguyễn Hữu T2 kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng T và bị hại Nguyễn Hữu T2 kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của bị cáo và của bị hại là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo; bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ, do đó căn cứ khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xem xét kháng cáo vắng mặt bị hại. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng T và kháng cáo của bị hại Nguyễn Hữu T2. - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 04-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh tụng công khai; nói lời sau cùng bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo. [2]. Xét kháng cáo của bị cáo: [2.1]. Về tội danh: Khoảng 15 giờ ngày 07-8-2022, tại quán H, thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, mặc dù không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Hữu T2, nhưng khi thấy anh T2 đánh anh Nguyễn Văn L2, Nguyễn Trọng T không can ngăn mà cầm cây cơ B đánh 01 nhát vào vùng đầu của anh T2 làm cây cơ Bida gãy đôi, sau đó bị cáo tiếp tục đánh trúng vào vai, làm cho anh Nguyễn Hữu T2 bị thương tích. Như vậy, mặc dù không có mâu thuẫn, nhưng Nguyễn Trọng T đã sử dụng hung khí nguy hiểm (cây cơ B) trực tiếp tấn công vào vùng trọng yếu (vùng đầu) trên cơ thể anh Nguyễn Hữu T2; hậu quả, anh T2 không chết, mà bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 17% là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Toà án nhân dân Đắk Lắk kết án bị cáo về tội danh này là có căn cứ, đúng pháp luật và không oan.
. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không những thể hiện thái độ hung hãn, sẵn sàng sử dụng hung khí, nhằm tước đoạt tính mạng của người khác, mà còn xâm phạm đến trật tự trị an, địa phương, nên cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; đã tác động gia đình bồi thường và được bị hại kháng cáo xin giảm hình phạt; ngoài ra, bị cáo từng phục vụ trong quân đội; có ông ngoại là người có công với cách mạng, bà ngoại và bố đã có thời gian tham gia quân đội. Do tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Như vậy, kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét và có cơ sở để chấp nhận. [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét. [4]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng T và kháng cáo của bị hại Nguyễn Hữu T2. - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 04-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phần Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng T. 2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 1 Điều 54 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: - Nguyễn Trọng T 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-12-2022. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể tư ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Nguyễn Trọng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - TANDTC - Vụ I; - VKSNDCC t ại Đà N ẵng; - VKSND t ỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục THA dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam CA t ỉnh Đắk Lắk; - Lưu: H/sơ vụ án, các Phòng HCTP, LTH S. Phạm Việt Cường | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) (02 bản, để giao cho bị cáo 01 bản); |