vanban.org

Bản án 475/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1 và Wu Xiao S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Tuyên bố các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Xử phạt: Bị cáo Zhu Zhong L tù Chung Thân về tội “Cướp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Zhu Zhong L và các bị cáo khác - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1 và Wu Xiao S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 475 /2022/HS-PT
Ngày: 23-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Tồn

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Kim Nhân

Ông Phạm Tấn Hoàng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 383/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Zhu Zhong L và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Zhu Zhong L; Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1993 tại Trung Quốc, Nơi cư trú: Trung Quốc; Nơi tạm trú tại Việt nam trước khi phạm tội: tỉnh Hậu Giang, Nghề nghiệp: không ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Trung Quốc; Dân tộc: Hán; Con ông: Zhu Chuan J và bà Wang Shu L (đều còn sống); Có vợ: Huỳnh Ngọc H, chưa có con chung; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 03/5/2021. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt.

2. Wu Xiao S; Sinh ngày 24 tháng 02 năm 1988 tại: Trung Quốc; Nơi cư trú: Trung Quốc. Nơi cư trú tại Việt Nam trước khi phạm tội: Không xác định được địa chỉ nơi cư trú; Nghề nghiệp: LĐPT; Giới tính: Nam; Dân tộc: Hán; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Trung Quốc; Con ông: Wu Huai Q và bà Xu Li B (đều còn sống); chưa có vợ, con; Tiền án: Không;

Tiền sự: ngày 02/4/2021 bị UBND thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Người nước ngoài nhập cảnh, hành nghề hoặc có hoạt động khác tại Việt Nam mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền”, “Người nước ngoài sử dụng chứng nhận tạm trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 16 ngày trở lên mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép”

Bị bắt tạm giam ngày 03/5/2021. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt.

3. Su Hai L1; Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1988 tại: Trung quốc; Nơi cư trú: Trung Quốc; Nơi cư trú tại Việt Nam trước khi phạm tội: tỉnh Đồng Tháp Nghề nghiệp: không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Hồi; Quốc tịch: Trung Quốc; Con ông Shu Zhan G và bà Yang Gui X (đều còn sống), Có vợ là Nguyễn Thị T và 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giam ngày 14/5/2021. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo:

Người bào chữa cho bị cáo Zhu Zhong L: Ông Lê Hữu P - Luật sư Công ty Luật TNHH H và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng theo yêu cầu của gia đình bị cáo và bị cáo. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Wu Xiao S: Ông Thái Quốc V - Luật sư Công ty Luật TNHH T, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Su Hai L1: Ông Trần Văn H - Luật sư - Công ty Luật TNHH A, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng theo yêu cầu của gia đình bị cáo và bị cáo. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người phiên dịch: Bà Dương Minh T (Cử nhân tiến Trung) - Cộng tác viên thuộc Trung tâm phục vụ đối ngoại thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Ngoài ra trong vụ án còn có các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 05/4/2021, Su Hai L1 theo dõi thấy anh Jiang Tao Y (Quốc tịch: Trung Quốc, số hộ chiếu: E51011750), điều khiển xe ô tô hiệu Mazda Biển kiểm soát 43A- 319.69 đến chơi bóng rổ tại Trung tâm văn hóa - Thể thao quận S, TP Đà Nẵng, nên gọi điện cho Zhu Zhong L đến với mục đích đánh Jiang Tao Y để chiếm đoạt tiền. Zhu Zhong L đồng ý và rủ thêm Wu Xiao S đi cùng để giúp sức và Zhu Zhong L hứa sẽ trả tiền công cho Wu Xiao S. Còn Su Hai L1 thì rủ một người tên P (chưa rõ lai lịch) đến giúp sức.

Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh Jiang Tao Y đi ra chỗ đậu xe, chuẩn bị đi về thì bị Zhu Zhong L, Wu Xiao S và P đứng sẵn ở cổng Trung tâm văn hóa - thể thao đến mở cửa xe ô tô kéo anh Jiang Tao Y ra khỏi xe, dùng tay, chân đánh và uy hiếp, buộc anh Jiang Tao Y lên ngồi ghế sau của xe ô tô biển kiểm soát 43A-319.69, còn Su Hai L1 đứng quan sát tình hình. Khi đưa anh Jiang Tao Y lên xe thì các đối tượng dùng túi giấy (có sẵn trên xe ô tô) trùm đầu anh Jiang Tao Y lại. Sau đó, Zhu Zhong L điều khiển xe ô tô cùng với Wu Xiao S và P chở anh Jiang Tao Y đến một địa điểm gần cầu Rồng rồi dừng lại. Còn Su Hai L1 điều khiển xe ô tô của P chạy đến sau. Lúc trên xe, P tiếp tục dùng tay đánh anh Jiang Tao Y, Zhu Zhong L nói với anh Jiang Tao Y „„mạng mày đáng giá bao nhiêu tiền, mày có cần mạng sống nữa không‟‟ và yêu cầu anh Jiang Tao Y đưa tiền. Do anh Jiang Tao Y không có tiền nên các đối tượng yêu cầu nói nơi ở của anh He Fa S (Quốc tịch Trung Quốc, số hộ chiếu: EF0364805), là bạn của Jiang Tao Y đang ở đâu để đến lấy tiền. Khi biết được nơi ở của anh He Fa S tại Phòng 1511 Căn hộ Hiyori Garden Tower, số 02 V, phường A, quận S, TP Đà Nẵng, nên yêu cầu anh Jiang Tao Y gọi cho anh He Fa S và nói bạn gái của anh Jiang Tao Y sắp qua lấy đồ để Zhu Zhong L và Su Hai L1 có thể dễ dàng vào căn hộ của He Fa S.

Đến 23 giờ cùng ngày, Su Hai L1 điều khiển xe ô tô của P chở Zhu Zhong L đến căn hộ của anh He Fa S. Su Hai L1 có đưa cho Zhu Zhong L một mũ bảo hiểm có chữ Grab, còn Su Hai L1 cầm một bao nilon đựng nước và thuốc lá với mục đích giả làm người giao hàng. Khi Zhu Zhong L và Su Hai L1 đến trước cửa căn hộ, anh He Fa S mở cửa thì cả hai liền dùng tay đánh vào mắt, cằm và uy hiếp anh He Fa S. Zhu Zhong L, Su Hai L1 yêu cầu anh He Fa S đưa tiền nếu không sẽ giết He Fa S và Jiang Tao Y. Thấy vậy, anh He Fa S đã nhờ người thân chuyển tiền vào tài khoản của mình, sau đó, Zhu Zhong L và Su Hai L1 đã lấy điện thoại anh He Fa S chuyển tiền từ tài khoản của anh He Fa S đến các tài khoản của Zhu Zhong L và đồng bọn. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/4/2021, Wu Xiao S và P điều khiển xe ô tô hiệu Mazda biển kiểm soát 43A-319.69 đưa anh Jiang Tao Y đến căn hộ của anh He Fa S. Lúc này, các đối tượng cho Jiang Tao Y và He Fa S mỗi người ở một phòng riêng. Đến sáng ngày 06/4/2021, thì Zhu Zhong L cùng đồng bọn tiếp tục đe dọa, yêu cầu anh He Fa S và Jiang Tao Y chuyển tiền qua tài khoản của mình và đồng bọn. Sau đó anh He Fa S và Jiang Tao Y đã tiếp tục liên lạc người thân để mượn tiền rồi chuyển cho Zhu Zhong L và đồng bọn. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/4/2021, thấy không còn khả năng lấy được tiền nữa, nên Zhu Zhong L cùng đồng bọn bỏ đi.

Căn cứ tài liệu hồ sơ thu thập được xác định, thông qua tài khoản của He Fa S; Jiang Tao Y và He Fa S đã chuyển khoản số tiền theo yêu cầu của Zhu Zhong L và đồng bọn, cụ thể:

- Vào lúc 00 giờ 24 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển qua tài khoản ngân hàng B của Zhu Zhong L 100.000 CNY (Nhân dân tệ);

- Vào lúc 11 giờ 41 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển qua tài khoản Alipay của Zhu Zhong L 5.000 CNY; (Nhân dân tệ)

- Vào lúc 12 giờ 41 phút và 12 giờ 49 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển qua tài khoản Alipay của Wu Xiao S tổng cộng 18.000 CNY; (Nhân dân tệ)

- Vào lúc 11 giờ 24 phút và 14 giờ 57 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển qua tài khoản Wechat của Wu Xiao S tổng cộng 59.000 CNY; (Nhân dân tệ)

- Vào lúc 00 giờ 41 phút, 00 giờ 42 phút, 00 giờ 45 phút và 00 giờ 47 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển qua tài khoản ngân hàng của Wang Ya Lin (chưa rõ lai lịch, Su Hai L1 yêu cầu He Fa S chuyển tiền vào tài khoản này) tổng cộng 199.999 CNY(Nhân dân tệ).

- Vào lúc 00 giờ 56 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển vào tài khoản 188******21 (chủ tài khoản là P, Su Hai L1 yêu cầu S chuyển) 20.000 CNY;

- Vào lúc 00 giờ 51 phút ngày 06/4/2021, He Fa S chuyển vào tài khoản 157******57 (chưa rõ thông tin chủ tài khoản, Su Hai L1 yêu cầu He Fa S chuyển) 35.000 CNY; (Nhân dân tệ).

Tổng số tiền mà Zhu Zhong L cùng đồng bọn đã chiếm đoạt của Jiang Tao Y và He Fa S là 436.999 CNY(Nhân dân tệ).

Sau khi chiếm đoạt số tiền nêu trên, Wu Xiao S chuyển lại cho Zhu Zhong L 20.000 CNY, còn 57.000 CNY là tiền công mà Zhu Zhong L trả cho Wu Xiao S; Zhu Zhong L chuyển cho Su Hai L1 40.000 CNY và hưởng lợi là 85.000 CNY; Su Hai L1 hưởng lợi 294.999 CNY. Số tiền chiếm đoạt được các bị cáo tiêu xài cá nhân hết.

Theo Công văn số 463/ĐAN-TTGSNG ngày 07/5/2021 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, chi nhánh Đà Nẵng trả lời: Tỷ giá tính chéo của đồng Việt Nam so với Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY) có hiệu lực từ ngày 01/4/2021 đến ngày 07/4/2021 là: 1 CNY tương đương 3.538,98 VND. Như vậy, 436.999 CNY tương đương 1.546.530.721 VND.

Tổng giá trị tài sản các bị can chiếm đoạt của Tao Y và He Fa S là 1.546.530.721 đồng.

Tang, tài vật thu giữ gồm:

- Thu giữ của Zhu Zhong L 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 355703101262756; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 35859893792473; thu giữ của Wu Xiao S 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 3526229931769873; Thu giữ của Zhu Zhong L 01(một) tờ giấy ghi chữ bằng tiếng nước ngoài, mực màu xanh; Thu giữ của Su Hai L1 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax và 01(một) điện thoại di động hiệu Viettel A2.

- 01(một) đĩa CD ghi lại sự việc xảy ra vào tối ngày 05/4/2021 tại khu vực đậu xe Trung tâm văn hóa - thể thao quận S và 01 đĩa CD ghi lại sự việc xảy ra tại căn hộ Hiyori Garden Tower, số 02 V, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (kèm theo hồ sơ vụ án).

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S và Su Hai L1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 168 và tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Trong quá trình điều tra các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S khai nhận trong khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút ngày 05/4/2021 cho đến khoảng thời gian 19 giờ 30 phút ngày 06/4/2021 tại Trung tâm văn hóa - Thể thao quận S và Phòng số 1511 Căn hộ Hiyori Garden Tower, số 02 V, phường A, quận S, TP Đà Nẵng các bị cáo có cùng với bị cáo Su Hai L1 và P (bạn của Hai L1) đã thực hiện hành vi dùng tay, chân đánh và uy hiếp khống chế bắt ông Jiang Tao Y lên ngồi phía sau xe ô tô BKS 43A-319.69 để đưa đến một địa điểm gần cầu rồng rồi dừng lại yêu cầu ông Tao Y đưa tiền, nhưng do ông Tao Y không có tiền để đưa nên các bị cáo tiếp tục đến nơi ở của ông He Fa S (bạn của của ông Tao Y) khống chế uy hiếp buộc ông He Fa S chuyển tiền vào tại khoản của các bị cáo và đồng phạm rồi chiếm đoạt tiêu xài cho cá nhân; Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S chỉ thừa nhận về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật”, các bị cáo không có hành vi “Cướp tài sản”. Vì vậy, các bị cáo L, S thừa nhận Cáo trạng VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo về tội “Bắt, giữ, người trái pháp luật” là đúng pháp luật hình sự Việt Nam, còn tội “Cướp tài sản” là oan cho các bị cáo, nên các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để có ít thời gian cải tạo tốt sớm được đoàn tụ với gia đình. Riêng bị cáo Su Hai L1 không thừa nhận hành vi phạm tội mà VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo, nên đề nghị HĐXX xem xét minh oan cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

I. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

II. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52; các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, các điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 39 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Zhu Zhong L tù Chung Thân về tội “Cướp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là tù: Chung thân. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2021.

2.2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52; các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Wu Xiao S: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là: 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2021.

2.3.Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52, các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, Điều 58, khoản 1 Điều 55 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Su Hai L1 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là: 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 14/5/202.

2.4. Hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 37 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Buộc: Trục xuất các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần dân sự, xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 13 tháng 8 năm 2022, các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1 có đơn kháng cáo kêu oan, các bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật”; bị cáo Wu Xiao S có đơn kháng cáo kêu oan, bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo kháng cáo kêu oan, nhưng không có tình tiết gì mới. Xét thấy, bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử các bị cáo về các tội “Cướp tài sản” và “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm a khoản 4 Điều 168 và các điểm a, đ khoản 2 Điều 157 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của của các bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S cho rằng, bản chất của vụ án do bị hại nợ tiền của các bị cáo nên bắt giữ và đánh để đòi nợ, nhưng do không hiểu biết pháp luật nên dẫn đến vi phạm pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho Su Hai L1 cho rằng chưa đủ căn cứ chứng minh Su Hai L1 cùng tham gia bắt giữ và nhận tiền của bị hại, nên đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm để điều tra lại.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay Zhu Zhong L và Wu Xiao S khai, sau khi đã thống nhất, Su Hai L1 và một người tên P (bạn Hai L1 chưa rõ lai lịch) đến trước Trung tâm thể thao quận S TP-Đà nẵng để theo dõi bị hại và gọi điện thoại thông báo Zhu Zhong L và Wu Xiao S đến bắt giữ và đánh bị hại đòi nợ. Khi phát hiện Jiang Tao Y ra xe ô tô chuẩn bị đi về thì, bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S và một người tên P (bạn Hai L1 chưa rõ lai lịch) trực tiếp đi đến mở cửa xe ô tô kéo ông Jiang Tao Y ra khỏi xe ( tại các bl số 173, 175, 244 Su Hai L1 là người yêu cầu các bị cáo đánh bị hại, sau đó đưa bị hại đi nơi khác và chỉ đạo các bị cáo canh gác bị hại cũng là người yêu cầu chuyển tiền) dùng tay, chân đánh và uy hiếp, khống chế buộc Jiang Tao Y lên ngồi ghế sau của xe ô tô BKS số 43A-319.69 dùng túi trùm đầu bị hại và tiếp tục di chuyển đến gần cầu rồng, sau đó các bị cáo đưa ông Jiang Tao Y về Phòng 1511 Căn hộ Hiyori Garden Tower tại số 02 đường V, quận S, thành phố Đà Nẵng nơi He Fa S (bạn của Jiang Tao Y) đang thuê ở. Do ông Tao Y không có tiền nên các bị cáo khống chế uy hiếp buộc ông He Fa S chuyển tiền vào tài khoản của các bị cáo, thời gian bắt giữ khống chế, uy hiếp đánh đập buộc Jiang Tao Y và He Fa S 19h30 phút ngày 5-4 đến 19h 30 phút ngày 6-4-2021.

Quá trình điều tra các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S khai nhận hành vi nhưng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S chỉ thừa nhận về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật”, không phạm tội “Cướp tài sản”. Đối với Su Hai L1 không nhận cả hai tội.

Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S và Su Hai L1 thì thấy.

Đây là vụ án có tổ chức, trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có bàn bạc, thống nhất với nhau trong việc bắt giữ các bị hại nhằm khống chế đánh đập đe dọa nhằm mục đích chiếm đoạt tiền. Người chủ mưu cầm đầu trong vụ án là Zhu Zhong L, trực tiếp tham gia tham gia thực hành là Wu Xiao S, Su Hai L1 cùng tham gia thực hiện với vai trò giúp sức theo dõi cảnh giới để đồng bọn thực hiện vi khống chế đe dọa, bắt giữ và dùng vũ lực đối với các bị hại nên là đồng phạm.

Các bị cáo đã có sự phân công người đứng cảnh giới, người dùng vũ lực tay, người khống chế người bị hại, người lái xe di chuyển người bị hại đến Phòng 1511 Căn hộ Hiyori Garden Tower. Tại đây các bị cáo tiếp tục dùng vũ lực nhằm mục đích buộc ông He Fa S và Jiang Tao Y chuyển tiền vào tại khoản của các bị cáo. Như vậy, các bị cáo Zhu Zhong L, Wu Xiao S và Su Hai L1 đã bắt giữ các bị hại 19h30 phút ngày 5-4 đến 19h 30 phút ngày 6-4-2021 đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội bắt giữ người trái pháp luật.

Đối với hành vi cướp tài sản quá trình điều tra đã xác định được. Các bị cáo đã khống chế đánh đập đe dọa nạn nhân, nhằm mục đích chiếm đoạt tiền vào các tài khoản mà các bị cáo yêu cầu. Đây là tội phạm có cấu thành hình thức, các bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực để buộc người bị hại gọi điện thoại yêu cầu người thân chuyển tiền. Tội phạm hoàn thành tại thời điểm người bị hại bị tê liệt về mặt ý chí và thực hiện các yêu cầu của bị cáo về việc liên hệ với người thân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử các bị cáo về các tội “Cướp tài sản” và “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm a khoản 4 Điều 168 và các điểm a, đ khoản 2 Điều 157 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án là có căn cứ nên bác kháng cáo kêu oan của các bị cáo.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1 và Wu Xiao S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Tuyên bố các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52; các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, các điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 39 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Zhu Zhong L tù Chung Thân về tội “Cướp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là tù: Chung thân.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2021.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52; các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Wu Xiao S: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là: 22 (hai mươi hai) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 03/5/2021.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 52, các điểm a, đ khoản 2 Điều 157, Điều 58, khoản 1 Điều 55 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Su Hai L1 20 (hai mươi) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là: 22 (hai mươi hai) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 14/5/2021.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 37 Bộ luật hình sự.

Buộc: Trục xuất các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2. Án phí HSPT: Buộc các bị cáo Zhu Zhong L, Su Hai L1, Wu Xiao S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ