- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Thị Hoà 40 (bốn mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 24/12/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 475/2021/HSST Ngày: 23/9/2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 372/2021/HSST ngày 21/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2021/QĐXXST-HS ngày 03/8/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H; giớ i tinh: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh năm
́
1957; đăng ký HKTT: tổ 21, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nơi đăng ký HKTT hiện nay: thôn Ng, xã N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Không; học vấn: 0/12; con ông Nguyễn Đình Q và bà Phạm Thị Th (đều đã chết); có chồng là Hoàng Xuân Th (đã chết); có 4 con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: + Tại Bản án số 49/HSST ngày 07/6/2004, Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đưa hối lộ”; + Ngày 09/01/2007, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 24/12/2020; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1943 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 12, phường Gi, thành phố Thái Nguyên
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Quốc V, sinh năm 1989, có mặt
2. Chị Trần Thuỳ L1, sinh năm 1989, có mặt
Địa chỉ: tổ 11, phường Th, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
3. Anh Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ: xóm 2 K, xã X, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 13/12/2020, Nguyễn Thị H cùng con trai là Hoàng Quốc V đi từ thành phố Hà Nội đến thành phố Thái Nguyên. V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 29S1-988.31, đăng ký xe mang tên Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1988, địa chỉ: xóm 2 K, xã X, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Khi đi đến khu vực đường Thống Nhất, thành phố Thái Nguyên, V điều khiển xe rẽ vào tổ 12, phường Gi, thành phố Thái Nguyên, H thấy một bà già đang đứng trước cổng nên bảo V quay lại để H xin nước uống thuốc (sau xác định là bà Đinh Thị L). H đi đến gần cổng hỏi bà L “Nhà thầy Hà dạy tiếng Anh ở đâu”, bà L trả lời “Nhà thầy Hà ở ngoài đường cái, có biển đấy”. H nói tiếp “Bà cho cháu mượn cái bút ghi phong bì đi đám cưới”, bà L đi ra mở cổng, H đi theo bà L vào trong nhà, còn V ngồi ở trên xe. Bà L mang bút ra để ở bàn thì H nói “Cho cháu cái phong bì, bao nhiêu tiền thì cháu trả”. Bà L đi vào buồng ngủ, H đi theo sau. Bà L mở cửa tủ lấy 2 chiếc phong bì đưa cho H thì H nói tiếp “Đổi cho cháu hai tờ 100.000 đồng lấy một tờ 200.000 đồng để đóng phong bì cho đẹp”. Bà L cúi xuống ngăn tủ phía dưới lấy ví ra đổi tiền thì H để một chiếc phong bì vào ngăn tủ bên trên rồi cầm lấy 01 hộp nhựa, bên trong có một đồng tiền cổ bằng bạc hình tròn để ở ngăn tủ đút vào túi áo bên phải. Sau đó H đưa cho bà L 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, bà L đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Khi H thấy trong ví của bà L có nhiều tờ tiền, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền, H nói “Đổi cho cháu tờ 500.000 đồng để cho nó đẹp hơn chứ bà”, bà L nói “Không có tờ 500.000 đồng đâu” rồi mở ví ra cho H xem. H dùng tay phải giật lấy toàn bộ số tiền của bà L để ở trong ví rồi chạy nhanh ra phía cửa. Bà L hô to “Cướp cướp”. H đi được khoảng 03 mét về phía cửa thì thấy ông Nguyễn Mai là chồng bà L đang đứng ở cạnh ghế, thấy không thể bỏ chạy được nên H bỏ lại toàn bộ số tiền. Bà L tiếp tục hô “Cướp, cướp” và dùng tay phải cầm áo của H thì H dùng miệng cắn một nhát vào bàn tay phải của bà L, mục đích để bà L đau phải bỏ áo H ra để H tẩu thoát được. Hoàng Quốc V nghe thấy tiếng hô nghĩ là mẹ mình bị đánh, nên chạy từ ngoài vào dùng tay đẩy bà L ra và kéo H đi ra phía cửa. H đi đến khu vực trước cửa thì cháu Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 2006, là cháu của bà L và người dân bắt giữ được Hoà. H đã vứt 01 hộp nhựa, bên trong có một đồng tiền cổ bằng bạc vào trong chiếc xô đựng nước.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bà Đinh Thị L xác định có 01 vết rách da KT: 0,3 x 03cm, tại nếp gấp đốt 2-3 ngón áp út tay phải; 01 vết bầm tím KT 01x01cm ở mặt ngoài đốt 3 ngón giữa bàn tay phải.
Tại Bản kết luận giám định số 1239/C09-P4 của Viện khoa học hình sự- Bộ Công an, kết luận: 01 miếng kim loại hình tròn, màu trắng, Nguyễn Thị Hoà trộm cắp của bà L gửi giám định có khối lượng 26,28 gam, là hợp kim bạc (Ag), đồng (Cu); hàm lượng Ag: 90,51%, Cu: 9,49%. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 100 ngày 01/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 đồng bạc hình tròn của bà Đinh Thị L trị giá 500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc ví vải có họa tiết hoa văn nhiều màu, số tiền 2.700.000 đồng, 01 đồng bạc hình tròn, đã trả lại cho bà Đinh Thị L là chủ sở hữu quản lý, sử dụng;
Số tiền 1.111.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thị H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29S1- 988.31; 01 giấy phép lái xe và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Quốc V; 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Kim Đ; 01 Giấy hẹn đăng ký xe BKS 29S1-988.31; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của Hoàng Quốc V, đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Về trách nhiệm dân sự: bà Đinh Thị L có đơn gửi Toà án, xác định bị cáo H đã khắc phục hậu quả, không có ý kiến đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 389/CT-VKSTPTN ngày 21/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định truy tố Nguyễn Thị Hoà về tội " Cướp giật tài sản" theo điểm đ, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Hoà khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 389/CT-VKSTPTN ngày 21/7/2021, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoà phạm tội " Cướp giật tài sản"
Đề nghị áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Hoà từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét;
Về vật chứng: Trả lại anh Hoàng Quốc V chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29S1- 988.31 và các giấy tờ có liên quan; tạm giữ số tiền 1.111.000 đồng của Nguyễn Thị Hoà để đảm bảo thi hành án.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị H đều khai nhận: sáng ngày 13/12/2020, Nguyễn Thị H đã vào nhà bà Đinh Thị L, ở tổ 12, phường Gi, thành phố Thái Nguyên cướp giật số tiền 2.700.000 đồng để trong ví của bà L đang cầm trên tay rồi chạy nhanh ra cửa. Khi bà L túm áo bắt giữ bị cáo, thì bị cáo đã cắn vào tay của bà L để tẩu thoát.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, bị cáo Nguyễn Thị Hoà đã có hành vi cướp giật số tiền 2.700.000 đồng của bà Đinh Thị L, 78 tuổi, khi bà L túm giữ áo của bị cáo, bị cáo đã bỏ lại số tiền và cắn vào tay bà L để tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, định khung tăng nặng theo điểm đ, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, là: hành hung để tẩu thoát và phạm tội đối với người già, yếu.
Bản cáo trạng số 389/CT-VKSTPTN ngày 21/7/2021 của VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Thị Hoà theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sức khoẻ, tinh thần và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, khắc phục hậu quả cho bà Đinh Thị L, bà L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, cần áp dụng hình phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, thấy bị cáo là người cao tuổi, sau khi phạm tội đã thực sự thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người cao tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có ý kiến đề nghị gì, nên không xem xét.
Về vật chứng:
Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29S1- 988.31 và các giấy tờ kèm theo, xác định thuộc quyền sở hữu của vợ chồng anh Hoàng Quốc V, chị Trần Thuỳ L1 nên trả lại cho anh V.
Đối với số tiền 1.111.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thị Hoà, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, Nguyễn Thị H còn có hành vi trộm cắp 01 đồng bạc của bà Đinh Thị L trị giá 500.000 đồng, Công an thành phố Thái Nguyên đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H về hành vi “Trộm cắp tài sản” là phù hợp. Đối với Hoàng Quốc V có hành vi đưa H đến nhà bà Đinh Thị L và đẩy bà L để kéo H ra ngoài. Quá trình điều tra xác định V không biết H chiếm đoạt tài sản của bà L, Cơ quan điều tra không xử lý đối với V là phù hợp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ, g khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị Hoà 40 (bốn mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 24/12/2020.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
5.1. Trả lại anh Hoàng Quốc V chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, Biển kiểm soát 29S1- 988.31, số máy: KF41E0101523, số khung: RLHKF4106LZ486634; 01 giấy phép lái xe số 360126000239; 01 chứng minh nhân dân số 036089000235 mang tên Hoàng Quốc V; 01 Giấy hẹn đăng ký xe BKS 29S1-988.31; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe mô tô, xe máy;
5.2. Trả lại anh Nguyễn Kim Đ 01 Chứng minh nhân dân số 013212711 mang tên Nguyễn Kim Đ
5.3. Tạm giữ số tiền 1.111.000 đồng của Nguyễn Thị Hoà để đảm bảo thi hành án.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên số 499 ngày 16/7/2021; số tiền 1.111.000 đồng theo ủy nhiệm chi số 53 ngày 09/7/2021 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Kho bạc Nhà nước thành phố Thái Nguyên.
6. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoà phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
7. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Quý Sửu |